Tài liệu Nâng cao năng lực giáo viên trong giáo dục phòng chống bạo lực học đường và xâm hại tình dục cho học sinh Trường Phổ thông Dân tộc bán trú - Cấp Tiểu học
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tài liệu Nâng cao năng lực giáo viên trong giáo dục phòng chống bạo lực học đường và xâm hại tình dục cho học sinh Trường Phổ thông Dân tộc bán trú - Cấp Tiểu học", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
tai_lieu_nang_cao_nang_luc_giao_vien_trong_giao_duc_phong_ch.pdf
Nội dung tài liệu: Tài liệu Nâng cao năng lực giáo viên trong giáo dục phòng chống bạo lực học đường và xâm hại tình dục cho học sinh Trường Phổ thông Dân tộc bán trú - Cấp Tiểu học
- BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TÀI LIỆU TẬP HUẤN NÂNG CAO NĂNG LỰC GIÁO VIÊN TRONG GIÁO DỤC PHÒNG CHỐNG BẠO LỰC HỌC ĐƯỜNG VÀ XÂM HẠI TÌNH DỤC CHO HS TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC BÁN TRÚ CẤP TIỂU HỌC NĂM 2022
- TẬP THỂ TÁC GIẢ 1. TS. Nguyễn Xuân An Việt - Vụ GDCTHSSV – Bộ Giáo dục và Đào tạo 2. TS. Phạm Anh Tuấn - Vụ GDCTHSSV – Bộ Giáo dục và Đào tạo 3. CVC. Bùi Tiến Dũng - Vụ GDCTHSSV – Bộ Giáo dục và Đào tạo 4. Trung tá, Nguyễn Tất Trình - Văn phòng Bộ Công an. 5. Đặng Thị Thanh Thảo - Học viện Quản lý giáo dục 6. TS. Mai Quốc Khánh - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 7. TS. Tưởng Duy Hải - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 8. ThS. Dương Thị Thúy Nga - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 9. ThS. Đoàn Thị Thoa - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 1
- LỜI NÓI ĐẦU Tài liệu tập huấn nâng cao năng lực giáo viên trong giáo dục phòng chống bạo lực học đường và xâm hại tình dục nhằm cho học sinh trường phổ thông dân tộc bán trú cấp tiểu học nhằm trang bị cho đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý những hiểu biết chung và cách thức thực hiện hoạt động giáo dục phòng chống bạo lực học đường và xâm hại tình dục cho học sinh, hướng tới mục tiêu xây dựng trường học an toàn cho học sinh các trường phổ thông dân tộc bán trú. Nội dung chính của tài liệu gồm 03 chương, bao gồm: Các vấn đề chung, nội dung giáo dục và hướng dẫn cách thức, phương pháp tổ chức giáo dục cho học sinh trường bán trú về cách phòng chống bạo lực học đường và xâm hại tình dục trong và ngoài nhà trường. Trong tài liệu còn dành khoảng 50% dung lượng để trình bày về các ví dụ minh họa cụ thể các hoạt động giáo dục, kế hoạch bài dạy để giáo viên có thể thực hiện trực tiếp hoặc điều chỉnh cho phù hợp với kế hoạch giáo dục của nhà trường theo từng khối lớp, đối tượng học sinh trong trường phổ thông dân tộc bán trú cấp tiểu học. Các nội dung trình bày trong tài liệu đã được xin ý kiến của một số cơ sở giáo dục phổ thông dân tộc bán trú trên cả nước và góp ý của các chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực giáo dục phòng chống bạo lực học đường và xâm hại tình dục trẻ em. Nhóm biên soạn tài liệu trân trọng cảm ơn và rất mong được tiếp tục tiếp thu các ý kiến đóng góp của thầy giáo, cô giáo, cán bộ quản lý, chuyên gia và cá nhân quan tâm để tài liệu ngày càng được hoàn thiện thêm. Nhóm biên soạn 2
- DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 1 GV giáo viên 2 HS học sinh 3 CMHS cha mẹ học sinh 4 BLHĐ bạo lực học đường 5 XHTD xâm hại tình dục 6 PTDTBT phổ thông dân tộc bán trú 7 HĐTN hoạt động trải nghiệm 8 CBQL cán bộ quản lý 9 DTTS dân tộc thiểu số 3
- MỤC LỤC CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÒNG CHỐNG BẠO LỰC HỌC ĐƯỜNG VÀ XÂM HẠI TÌNH DỤC ............................................................................. 6 1. Bạo lực học đường và phòng chống bạo lực học đường .................................... 6 1.1. Khái niệm, phân loại và nhận diện .................................................................. 6 1.2. Phân loại và nhận diện ..................................................................................... 6 1.3. Nguyên nhân và hậu quả của bạo lực học đường ............................................ 9 1.3. Phòng chống bạo lực học đường cho học sinh dân tộc bán trú cấp tiểu học cơ sở ....................................................................................................................... 13 2. Một số vấn đề chung về xâm hại tình dục và phòng chống xâm hại tình dục 18 2.1. Xâm hại tình dục và biểu hiện của hành vi xâm hại tình dục ........................ 18 2.2. Hậu quả của hành vi xâm hại tình dục .......................................................... 22 2.3. Phòng chống xâm hại tình dục ....................................................................... 25 CHƯƠNG 2 GIÁO DỤC PHÒNG CHỐNG BẠO LỰC HỌC ĐƯỜNG VÀ XÂM HẠI TÌNH DỤC CHO HỌC SINH TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC BÁN TRÚ CẤP TIỂU HỌC ..................................................................................................................... 31 1. Đặc điểm của học sinh dân tộc thiểu số cấp tiểu học và tầm quan trọng của giáo dục phòng chống bạo lực học đường và xâm hại tình dục cho học sinh bán trú .......... 31 1.1. Đặc điểm học sinh dân tộc thiểu số các trường tiểu học bán trú .................. 31 1.2. Tầm quan trọng của giáo dục phòng chống bạo lực học đường và xâm hại tình dục cho học sinh dân tộc bán trú cấp tiểu học .............................................................. 34 2. Mục tiêu, nội dung, nguyên tắc giáo dục phòng chống bạo lực học đường và xâm hại tình dục cho học sinh dân tộc bán trú cấp tiểu học .......................................... 38 2.1. Mục tiêu giáo dục phòng chống bạo lực học đường và xâm hại tình dục cho học sinh dân tộc bán trú cấp tiểu học............................................................................ 38 2.2. Nội dung giáo dục phòng chống bạo lực học đường và xâm hại tình dục .... 39 2.3. Nguyên tắc giáo dục phòng chống bạo lực học đường và xâm hại tình dục . 40 3. Con đường giáo dục phòng chống bạo lực học đường và xâm hại tình dục cho học sinh dân tộc bán trú cấp tiểu học ............................................................................ 41 3.1. Giáo dục phòng chống bạo lực học đường và xâm hại tình dục theo phương thức tích hợp vào các môn học, hoạt động giáo dục theo chương trình GDPT ........... 41 3.2. Giáo dục phòng chống BLHĐ và XHTD thông qua các hoạt động đặc thù của trường tiểu học dân tộc bán trú ..................................................................................... 46 3.3. Tổ chức các hoạt động xã hội, huy động được nhiều nguồn lực phục vụ cho mục tiêu giáo dục phòng chống bạo lực học đường, xâm hại tình dục ......................... 47 4
- CHƯƠNG 3 HƯỚNG DẪN GIÁO DỤC PHÒNG CHỐNG BẠO LỰC HỌC ĐƯỜNG VÀ XÂM HẠI TÌNH DỤC CHO HỌC SINH DÂN TỘC BÁN TRÚ ....................... 48 1. Hướng dẫn xây dựng kế hoạch giáo dục của nhà trường phổ thông dân tộc bán trú cấp tiểu học trong đó tích hợp nội dung phòng chống bạo lực học đường và xâm hại tình dục .......................................................................................................................... 48 1.1. Quy trình xây dựng kế hoạch giáo dục của nhà trường phổ thông dân tộc bán trú cấp tiểu học trong đó tích hợp nội dung phòng chống bạo lực học đường và xâm hại tình dục. ................................................................................................................................. 48 1.2. Gợi ý khung kế hoạch .................................................................................... 52 2. Hướng dẫn giáo dục phòng chống bạo lực học đường và xâm hại tình dục thông qua các môn học ............................................................................................................. 55 2.1. Yêu cầu khi giáo dục phòng chống bạo lực học đường và xâm hại tình dục thông qua các môn học .................................................................................................. 55 2.2. Quy trình giáo dục phòng chống bạo lực học đường và xâm hại tình dục thông qua các môn học ..................................................................................................................... 56 3. Hướng dẫn giáo dục phòng chống bạo lực học đường và xâm hại tình dục thông qua hoạt động trải nghiệm ....................................................................................................... 59 3.1. Yêu cầu khi giáo dục phòng chống bạo lực học đường và xâm hại tình dục thông qua hoạt động trải nghiệm ....................................................................................................... 59 3.2. Quy trình tổ chức giáo dục phòng chống bạo lực học đường và xâm hại tình dục thông qua hoạt động trải nghiệm............................................................................ 61 4. Hướng dẫn giáo dục phòng chống bạo lực học đường và xâm hại tình dục thông qua hoạt động lao động, văn hóa, văn nghệ, thể thao. ................................................... 64 4.1. Yêu cầu khi giáo dục phòng chống bạo lực học đường và xâm hại tình dục thông qua hoạt động giáo dục, lao động, văn hóa, văn nghệ, thể thao ........................ 65 4.2. Quy trình tổ chức giáo dục phòng chống bạo lực học đường và xâm hại tình dục thông qua hoạt động lao động, văn hóa, văn nghệ, thể thao.................................. 66 5
- CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÒNG CHỐNG BẠO LỰC HỌC ĐƯỜNG VÀ XÂM HẠI TÌNH DỤC 1. Bạo lực học đường và phòng chống bạo lực học đường 1.1. Khái niệm, phân loại và nhận diện Bạo lực học đường là một dạng thức của bạo lực trong xã hội. “Bạo lực học đường là hành vi hành hạ, ngược đãi, đánh đập; xâm hại thân thể, sức khỏe; lăng mạ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm; cô lập, xua đuổi và các hành vi cố ý khác gây tổn hại về thể chất, tinh thần của người học xảy ra trong cơ sở giáo dục hoặc lớp độc lập”1. Bắt nạt học đường cũng là một phần của bạo lực học đường. Bắt nạt học đường là hành vi thể hiện sức mạnh (sức mạnh về thể chất và tinh thần) để đe dọa hoặc thực hiện các hành vi làm tổn thương người khác, nhằm mục đích kiểm soát và duy trì quyền lực với người bị bắt nạt, hành vi không xảy ra một lần mà lặp đi lặp lại theo thời gian giữa những trẻ trong độ tuổi đến trường2. 1.2. Phân loại và nhận diện Việc nhận dạng được các loại bạo lực học đường sẽ giúp cha mẹ học sinh và thầy cô dễ nhận ra các dấu hiệu nếu học sinh bị bắt nạt hoặc đang bắt nạt bạn khác. Đây là một bước quan trọng trong quá trình ngăn chặn sự tồn tại và phát triển của bạo lực học đường. Việc phân chia các hình thức bạo lực là tương đối khó khăn do sự chồng lấp của một số biểu hiện bạo lực.Trong phạm vi tài liệu, chúng tôi xác định hành vi bạo lực học đường được chia làm 4 loại bao gồm: Hành vi bạo lực thân thể, hành vi bạo lực tinh thần, hành vi bạo lực xã hội và hành vi bạo lực trên môi trường mạng3. + Bạo lực thân thể Bạo lực thân thể hay còn gọi là lạm dụng thân thể, là những hành vi gây ra thương tích hoặc chấn thương trên cơ thể người khác. Bạo lực thể thể bao gồm: - Hành vi dùng vũ lực như đánh đập, đấm, đá, tát, bóp cổ, cào cấu, cắn, giật tóc, cốc đầu, véo hoặc xoắn tai; ném (xuống ao, giếng), đốt, gây sốc điện, trói, - Hành vi sử dụng vũ khí, công cụ để gây tổn thương như: đánh bằng gậy, cành cây, roi, dao, búa, dí dùi nóng vào người, - Hành vi bạo lực thân thể khác như: trói, nhốt, treo cây, bắt quỳ trên sỏi, bắt đứng vào tổ kiến; bắt làm việc quá sức; bắt đứng dưới trời nắng/ mưa, úp mặt vào 1 Nghị định 80/2017/NĐ-CP Quy định về môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện, phòng, chống bạo lực học đường. 2 Sở GDĐT Hà Nội, CSAGA, Plan international, Phòng ngừa bắt nạt học đường; Dự án Trường học an toàn, thân thiện và bình đẳng. 3 Tổ chức Y tế Thế giới (2012). 6
- tường, dán băng keo vào miệng, không cho ăn, không cho uống, nuốt gia vị cay, chất độc, ... Cách nhận biết học sinh đang bị bạo lực thân thể: Nhiều học sinh sẽ giấu thầy cô và cha mẹ nếu các em bị bạn bè bạo lực thân thể. Do đó người lớn hãy chú ý đến những biểu hiện sau để có biện pháp can thiệp, hỗ trợ phù hợp như: - Về thể chất: có vết thương, cào, dấu bầm tím, vết xước ở bất cứ bộ phận nào trên cơ thể học sinh. Ngoài ra quần áo bị rách, bị xé, đi lại, ăn uống, nói năng, vệ sinh cá nhân, học tập có những biểu hiện không bình thường hoặc gặp khó khăn. - Về tinh thần: Sợ sệt khi gặp người lớn; tâm trạng lo lắng, lấm lét, nhút nhát; tự nhiên thích mặc quần áo dài, ngủ không ngon giấc, mê sảng, lảm nhảm xin lỗi, + Bạo lực tinh thần Bạo lực tinh thần có những biểu hiện như: - Hành vi dùng lời nói, từ ngữ tàn nhẫn, có tính chất xúc phạm, miệt thị, bao gồm: trêu chọc, nói xấu, bình phẩm thiếu tôn trọng về người khác (vẻ bề ngoài, dân tộc, người khuyết tật, giới tính, gia đình đơn thân, nghề nghiệp cha mẹ, hoàn cảnh gia đình, ...). Việc bạo lực bằng lời nói có thể bắt đầu không gây tổn thương, nhưng về lâu dài sức ảnh hưởng của bạo lực lời nói cũng tiêu cực không kém các loại bạo lực khác. Ví dụ một hành động chế giễu về ngoại hình (body shaming) “Sao bạn mập vậy, bạn mập giống y chang mẹ của bạn vậy” của bạn bè có thể làm cho HS trở nên buồn chán. Người hay gây ra bạo lực tinh thần thường sử dụng việc so sánh người khác bằng các lời lẽ ví von với những con vật được cho là ngu ngốc hay hạ thấp uy tín người khác trước mặt mọi người như nhận xét về trí tuệ, hình thức, trang phục để làm tổn thương đối tượng. - Các biểu hiện hành vi bạo lực tinh thần được thể hiện ra bằng những hành động như quát tháo, mắng nhiếc, chơi khăm, sỉ nhục ở chỗ đông người, xúi giục người khác để cô lập đối tượng, ... làm cho người bị tấn công cảm thấy xấu hổ, bất an, lo âu. - Hành vi bạo lực còn biểu hiện ở việc cô lập, không cho giao tiếp với mọi người xung quanh, ngăn cản việc tiếp cận các hoạt động bình thường như vui chơi, học tập, ... - Lôi kéo trẻ về phía mình chống lại người khác hoặc ép trẻ nói dối, kích động bạo lực, xúi giục trẻ làm những hành vi phạm pháp - Buộc trẻ chứng kiến hành vi bạo lực với người, con vật. Trong gia đình hoặc nhà trường, cha mẹ hoặc thầy cô giáo nếu thường xuyên quát mắng, nạt nộ, xúc phạm, chửi bới, ... sẽ làm cho vết thương tinh thần ở đứa trẻ càng lớn. Để chống đỡ lại sự tấn công này, đứa trẻ sẽ phản công lại bằng những lời nói hỗn hay hành vi phá phách khác. 7
- Phần lớn tại các cơ sở giáo dục tiểu học, hình thức bạo lực học đường thường xảy ra giữa người lớn (giáo viên, nhân viên, cán bộ của cơ sở giáo dục và người lớn khác có mặt ở trường đối với học sinh) và các em. Vì vậy, việc nhận biết học sinh đang bị bạo lực là cần thiết để có biện pháp hỗ trợ kịp thời. Cách nhận biết học sinh đang bị bạo lực: - Về mặt thể chất: Học sinh có dấu hiệu chậm phát triển, đái dầm, rối loạn ngôn ngữ. - Về hành vi: Học sinh có thể bắt đầu bỏ bữa, đổi khẩu vị, trở nên buồn bã hoặc cáu bẳn, có những thói quen lạ, “đá thúng đụng nia”, học tập sa sút, lơ đãng hoặc rụt rè, nhút nhát đôi lúc có hành vi hung hãn, rối loạn giấc ngủ. Học sinh bắt đầu chia sẻ với cha mẹ về những điều đáng buồn mà bạn bè hoặc ai đó nói về mình, và các em có thể hỏi bạn xem những điều ấy có thật hay không. Ở mức độ trầm trọng hơn, học sinh có suy nghĩ hoặc dọa tự tử. Bạo lực trên môi trường mạng Bạo lực trên môi trường mạng có thể hiểu là những hành vi gây hại cố ý, được lặp lại, thông qua các thiết bị điện tử như máy tính, điện thoại, và các mạng xã hội, email, diễn đàn, website, nền tảng trực tuyến. Bạo lực trên môi trường mạng có thể diễn ra công khai hoặc trong phạm vi cá nhân, có thể thấy ngay trước mắt hoặc diễn ra lặng thầm sau lưng nạn nhân. Ở HS tiểu học thì bạo lực trên môi trường mạng không phổ biến. Tuy nhiên, nhà trường và gia đình cũng cần phải quản lý đối với các em đã có cơ hội được sử dụng điện thoại, máy tính hoặc khi các em có dấu hiệu nghiện game. Hành vi bắt nạt học đường Ở độ tuổi HS tiểu học thì bắt nạt học đường xuất hiện nhiều hơn cả. Các hành vi bắt nạt này có thể tồn tại trong thời gian ngắn hoặc dài, ví dụ như: xé sách vở của nhau, không cho chơi cùng nhóm bạn, lấy đồ của nhau. Bắt nạt học đường thường xảy ra giữa học sinh với học sinh. Các em cần phân biệt để tránh từ việc bạn bè đùa giỡn nhau đến hành vi bắt nạt. Đôi khi rất khó để biết ai đó chỉ đang vui vẻ hay cố gắng làm tổn thương em. Đôi khi họ sẽ cười nhạo nó bằng cách “chỉ đùa thôi” hoặc “đừng quá coi trọng vấn đề này”. Nhưng nếu các em cảm thấy bị tổn thương hoặc nghĩ rằng người khác đang cười em thay vì cười với bạn, thì trò đùa đã đi quá xa. Nếu nó vẫn tiếp diễn ngay cả khi các em đã yêu cầu người đó dừng lại và các em vẫn cảm thấy khó chịu về điều đó, thì đây có thể là hành vi bắt nạt. Bắt nạt học đường cũng được chia làm 2 loại chính là bắt nạt về thể chất và bắt nạt tinh thần. 8
- Những hiện tượng bắt nạt học đường này sẽ để lại hậu quả lâu dài với học sinh bị bắt nạt. Các em có thể sợ đến đến trường vì bị bạn bắt nạt. Để xác định hành vi nào là hành vi bạo lực, hành vi nào không bạo lực trong các mối quan hệ giữa các học sinh trong nhà trường, người ta căn cứ vào hai biểu hiện: Một là, học sinh khi thực hiện hành vi đó thì có phải do cố ý hay không. Hai là, mục đích thực hiện hành vi đó là nhằm hướng đến điều gì. 1.3. Nguyên nhân và hậu quả của bạo lực học đường 1.3.1. Nguyên nhân của bạo lực học đường * Nguyên nhân từ môi trường, tương tác xã hội Môi trường xã hội và văn hóa có tác động lớn đến bạo lực, đặc biệt là bạo lực học đường trên cơ sở giới. Các khuôn mẫu giới, định kiến giới, sự phân biệt đối xử về giới hoặc quá coi trọng giới tính nam và hạ thấp giới tính nữ đều có thể là nguyên nhân dẫn đến bạo lực học đường trên cơ sở giới. Đặc biệt, với sự phát triển của các thiết bị và ứng dụng công nghệ hiện nay thì cơ hội trực tuyến và rủi ro trực tuyến luôn song hành cùng nhau. Điều này đồng nghĩa với việc trẻ em sẽ phải đối mặt với nhiều nguy cơ tiềm ẩn và hiện hữu từ môi trường không gian mạng. Trẻ em có thể gặp rủi ro bởi bắt nạt, lạm dụng, khai thác và buôn bán trẻ em trên có web đen và các phương tiện truyền thông xã hội. The Uniceff, 2017, nguyên nhân chính từ hiểm họa này là do “kết nối kỹ thuật số đã giúp những kẻ phạm tội dễ tiếp cận trẻ em hơn thông qua các hồ sơ mạng xã hội không được bảo vệ và các diễn đàn trò chơi trực tuyến. Nó cũng cho phép người phạm tội ẩn danh giảm nguy cơ bị nhận dạng và truy tố - mở rộng mạng 9
- lưới của họ, tăng lợi nhuận và tìm kiếm, theo đuổi nhiều nạn nhân cùng một lúc. Quyền riêng tư của trẻ em cũng bị đe dọa. Hầu hết trẻ em – và nhiều bậc cha mẹ có nhận thức rất hạn chế về lượng dữ liệu cá nhân mà trẻ đang cung cấp cho internet, và việc các dữ liệu này có thể bị sử dụng như thế nào”. Một số nghiên cứu đã chỉ ra hai loại rủi ro trẻ em có thể gặp phải trên môi trường mạng: - Rủi ro đến từ nội dung - Rủi ro giao tiếp Thứ nhất, các rủi ro nội dung đến từ việc trẻ tiếp xúc các nội dung không phù hợp bao gồm hình ảnh tình dục, khiêu dâm và bạo lực, các trang web có các nội dung ủng hộ hành vi không lành mạnh, nguy hiểm như tự làm hại bản thân, hướng dẫn cách tự tử Thứ hai, các rủi ro giao tiếp đến từ những mối quan hệ có nguy cơ như người lớn tìm cách tiếp xúc không phù hợp, gạ gẫm trẻ, hoặc thuyết phục trẻ tham gia vào các hành vi không lành mạnh * Nguyên nhân từ phía gia đình Nền tảng gia đình có vai trò quan trọng trong việc hình thành nhân cách cho trẻ, đặc biệt từ tuổi ấu thơ. Mối quan hệ cha mẹ, anh chị em sẽ ảnh hưởng tới nhận thức và hành vi của trẻ. Nếu thành viên trong gia đình cư xử với nhau bằng bạo lực, ứng xử bằng những từ nghĩ không hay sẽ góp phần hình thành trong trẻ những biểu hiện lệch lạc trong suy nghĩ và hành động. Bên cạnh sự giao tiếp, ứng xử trong gia đình thì sự kết nối giữa bố mẹ và con cái lỏng lẻo cũng là nguyên nhân khiến trẻ rơi vào hoàn cảnh bạo lực hoặc bị bạo lực. Thiếu sự quan tâm từ gia đình có nhiều mức độ, có khi chỉ là sự bỏ mặc cảm xúc của học sinh trước các việc nguy hiểm hoặc bạo lực, nhưng có khi còn nguy hiểm hơn đó là việc thờ ơ, không quan tâm hoặc không hiểu biết đến các nguy cơ mất an toàn của học sinh, nhưng nghiêm trọng nhất có lẽ là việc bỏ rơi hoàn toàn đứa trẻ. Cho dù thiếu quan tâm ở mức độ nào đi chăng nữa thì đều dẫn đứa trẻ đến nguy cơ bị mất an toàn về cảm xúc, tâm lý hoặc thể chất. Thiếu sự quan tâm của gia đình là việc học sinh mất đi hẳn “một hàng rào bảo vệ tự nhiên”, mất đi nhiều những cơ hội nhận được sự bảo vệ, yêu thương, hỗ trợ và nâng đỡ. Việc đối mặt với các nguy cơ mất an toàn của học sinh lúc này phụ thuộc vào chính những trải nghiệm và đặc tính cá nhân của học sinh đồng thời phụ thuộc vào nhà trường cùng xã hội. Ở học sinh lứa tuổi tiểu học vốn đã có sự hiếu động, tò mò thì đến cuối cấp học này học sinh bắt đầu bị ảnh hưởng bởi nhóm bạn nên có thể có những hành vi lôi kéo nhau. Trong tình huống này đòi hỏi gia đình phải rất quan tâm để nắm bắt tình hình. * Nguyên nhân từ phía nhà trường Truyền thông phòng ngừa BLHĐ cho HS thiếu hụt, không đầy đủ hoặc chưa hiệu quả gây ra việc thiếu thông tin, thiếu hiểu biết cho HS. 10
- Nhận thức của CBQL, GV, nhân viên trong việc xây dựng môi trường giáo dục an toàn, phòng chống bạo lực học đường chưa đúng mức. Thiếu hoặc thực hiện không hiệu quả quy định về đảm bảo an toàn và phòng chống bạo lực học đường. Thiếu các hoạt động can thiệp kịp thời để ngăn chặn những mâu thuẫn nhỏ thành những xung đột lớn, có thể biến một cuộc cãi vã nhỏ thành cuộc ẩu đả dữ dội; thiếu các hoạt động can thiệp kịp thời cũng là nguyên nhân của những vụ bạo lực trên quy mô lớp, trường hoặc liên trường. Ngoài các nguyên nhân trên, bạo lực học đường còn do bị ảnh hưởng của môi trường giáo dục trong nhà trường: Điều kiện dạy học, giáo dục, địa điểm, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, tài liệu học liệu dạy học, giáo dục, ... hay quá trình giáo dục luật pháp trong nhà trường chưa triệt để; mối quan hệ giữa thầy và trò chưa đúng mực; thiếu sự hỗ trợ tâm lý, thiếu giáo dục kỹ năng mềm; ... đều có ảnh hưởng đến hiệu quả của việc thực hiện kế hoạch phòng chống bạo lực học đường. * Nguyên nhân từ phía học sinh Do bị tác động từ xã hội và bạn bè lôi kéo vào các hành vi xấu. Áp lực học tập cũng là một nguyên nhân không nhỏ trong việc gây ra các vấn đề nguy hiểm và bạo lực đối với HS bởi lẽ, mỗi HS khi tham gia vào môi trường học tập, đều tự đặt cho mình những mong muốn, những mục tiêu, dù đó là ngắn hạn hay dài hạn. Áp lực học tập còn đến từ phía GV, phía nhà trường rồi áp lực học tập còn đến từ những người thân trong gia đình của HS và cả cộng đồng nơi HS sinh sống. Nhiều khi HS giải tỏa áp lực học tập bằng hành vi bạo lực hoặc bắt nạt. Học sinh tiểu học thiếu kiến thức và kỹ năng phòng chống bạo lực là nguyên nhân quan trọng dẫn đến bạo lực học đường. Khi tri thức của HS về phòng chống bạo lực học đường đã được trang bị thì không có nghĩa là HS có thể sẵn sàng ứng phó và vượt qua được nguy hiểm và bạo lực học đường. Bởi lẽ những tri thức đó mới chỉ là những hiểu biết cơ bản, do vậy HS cần được thường xuyên rèn luyện trong các môi trường phù hợp của lứa tuổi. Việc rèn luyện này giúp HS hình thành được những kỹ năng xã hội cần thiết cho việc nhận diện, ứng phó và giải quyết các nguy hiểm mà HS đối mặt. 1.1.2.2. Hậu quả của hành vi bạo lực học đường Trong các thời điểm và hoàn cảnh khác nhau, một người có thể ở nhiều vị trí khác nhau khi bạo lực xảy ra: nạn nhân, người gây ra bạo lực, người chứng kiến hoặc/và người cổ vũ bạo lực. Người bị bạo lực (còn gọi là nạn nhân) là người phải chịu bạo lực (Người bị hại hoặc phải chịu những tổn hại do những hành động bạo lực của người khác). Người gây bạo lực (còn gọi là người bắt nạt) là người gây ra bạo lực hoặc gây ra nguy hại (Người thực hiện hoặc chịu trách nhiệm về các hành động bạo lực). 11
- Người cổ vũ bạo lực là người cổ vũ, tham gia hoặc cho thấy họ hào hứng bởi hành vi bạo lực. Người chứng kiến (còn gọi là người quan sát) là người chứng kiến hành vi bạo lực. Bạo lực học đường không chỉ tác động tới một mình nạn nhân, mà còn để lại hệ quả tiêu cực với cả người chứng kiến, người cổ vũ bạo lực và người gây ra bạo lực. * Ảnh hưởng đến bản thân học sinh Hành vi bạo lực ảnh hưởng trực tiếp đến nạn nhân và kẻ thực hiện hành vi bạo lực. Hậu quả để lại là những tổn thương về mặt thể xác – nhẹ thì là các vết bầm tím nhưng cũng có thể gây nên những thương tích nặng phải được điều trị tại các cơ sở y tế. Nặng nề hơn là nhiều vụ bạo lực hiện nay còn để lại những di chứng không chỉ là về mặt thể xác mà cả mặt tình thần cho học sinh và gia đình các em. Có thể nhận thấy, với bản thân trẻ bị bắt nạt, các em sẽ rơi vào trạng thái bị tổn thương, lo âu, chán nản, suy sụp Các em sẽ luôn bị ám ảnh là làm thế nào để đối phó với kẻ bắt nạt mình. Sự sợ hãi, ám ảnh đó sẽ khiến nhiều em bị stress. Dẫn đến những hậu quả như: không dám ra ngoài chơi hoặc đến trường, khả năng tập trung kém. Trong trường hợp tình trạng bắt nạt kéo dài, ngoài ảnh hưởng xấu đến học tập còn có tác hại lớn với sự phát triển về mặt cảm xúc và xã hội của các em. Các em có khả năng bị trầm cảm, có thể ảnh hưởng đến tâm lý khi trưởng thành của các em. Hay lo lắng và tức giận Thiếu hoặc không giao tiếp xã hội Chán nản, lo âu Mất ngủ Sợ hãi khi gặp người lạ Nghi ngờ bản thân Hành vi bạo lực còn ảnh hưởng cả với những em học sinh chỉ chứng kiến, không tham gia hành vi bạo lực. Khi các em chứng kiến hành vi bạo lực sẽ dẫn tới hai hệ quả, một là các em cảm thấy sợ hãi, mất niềm tin khi kẻ gây bạo lực không bị trừng phạt; hai là các em có thể hùa theo số đông, ủng hộ hành vi này 12
- và có nhiều khả năng trở thành kẻ có hành vi bạo lực trong tương lai. Đối với học sinh thực hiện hành vi bạo lực: ảnh hưởng tới kết quả học tập và các mối quan hệ bạn bè và tâm lý của chính các em. * Ảnh hưởng đến gia đình Những hành vi bạo lực học đường của học sinh sẽ ảnh hưởng xấu đến gia đình của trẻ gây ra bạo lực và trẻ bị bạo lực. Đối với những học sinh bị bạo lực dù ở bất kỳ hình thức nào cũng để lại những hậu quả không tốt. Đồng thời kéo theo đó là không khí và cuộc sống gia đình bị xáo trộn, căng thẳng, lo lắng. Đối với những gia đình có con đánh bạn, bị nhà trường xử phạt, cha mẹ nạn nhân lên tiếng sẽ khiến cha mẹ buồn phiền, lo lắng, bố mẹ có thể đổ lỗi cho nhau trong việc quản lý, dạy dỗ giáo dục con. Khi không ai chịu nhận lỗi về mình, vợ chồng có thể nảy sinh mâu thuẫn. Mặt khác, bạo lực học đường còn khiến cho các gia đình có con đang đi học sẽ cảm thấy lo lắng, bất an cho sự an toàn của con mình. * Ảnh hưởng đến nhà trường Môi trường học tập có ảnh hưởng quan trọng tới tâm lí của học sinh. Khi xảy ra hành vi bạo lực trong nhà trường không chỉ tác động xấu đến nạn nhân mà còn làm cho không khí trong trường học trở nên căng thẳng, nặng nề. Điều này có thể gây tâm lí hoang mang, bất an cho học sinh. Học sinh có thể không dám đến trường vì sợ bị bạn bè trêu chọc, đánh đập. Đồng thời có thể dẫn tới môi trường nhà trường không còn tính lành mạnh, ảnh hưởng tới danh tiếng của nhà trường. * Ảnh hưởng đến xã hội Trong môi trường học đường, hiện tượng học trò cãi lại thầy, bạn bè đánh nhau không phải là hiếm. Những hành động ấy làm lu mờ nét văn hóa truyền thống tốt đẹp của xã hội, thể hiện sự sai lệch về hành vi một cách đáng báo động. Đặc biệt, khi các vụ bạo lực học đường xảy ra bên ngoài không gian trường học, nó còn có thể tạo nên sự mất trật tự xã hội và ảnh hưởng tới niềm tin của người dân. 1.3. Phòng chống bạo lực học đường cho học sinh dân tộc bán trú cấp tiểu học cơ sở Theo Điều 6, Nghị định số 80 NĐ – CP ngày 17 tháng 07 năm 2017 của chính phủ quy định về môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện phòng chống bạo lực học đường thì phòng chống bạo lực học đường bao gồm: - Biện pháp phòng ngừa, biện pháp hỗ trợ người học có nguy cơ bị bạo lực học đường và biện pháp can thiệp khi xảy ra bạo lực học đường - Biện pháp hỗ trợ người học có nguy cơ bị bạo lực học đường - Biện pháp can thiệp khi xảy ra bạo lực học đường 13
- 1.3.1. Biện pháp phòng ngừa bạo lực học đường - Tuyên truyền, phổ biến nâng cao nhận thức của người học, cán bộ quản lý, GV, nhân viên trong cơ sở giáo dục, gia đình người học và cộng đồng về mối nguy hiểm và hậu quả của bạo lực học đường; về trách nhiệm phát hiện, thông báo, tố giác hành vi bạo lực học đường; ngăn ngừa và can thiệp kịp thời đối với các hành vi bạo lực học đường phù hợp với khả năng của bản thân; - Giáo dục, trang bị kiến thức, kỹ năng về phòng chống xâm hại người học; phòng chống bạo lực học đường; phòng chống bạo lực trên môi trường mạng cho người học, cán bộ quản lý, nhà giáo, nhân viên của cơ sở giáo dục và gia đình người học; giáo dục, tư vấn kiến thức, kỹ năng tự bảo vệ cho người học; - Công khai kế hoạch phòng chống bạo lực học đường và các kênh tiếp nhận thông tin, tố giác về bạo lực học đường; - Tổ chức kiểm tra, giám sát, thu thập, xử lý thông tin liên quan đến BLHĐ; - Thực hiện phương pháp giáo dục tích cực, không bạo lực đối với người học (Theo Điều 6, Nghị định số 80 NĐ – CP ngày 17 tháng 07 năm 2017) Trong trường tiểu học, hoạt động phòng ngừa trong phòng chống bạo lực học đường chính là những hoạt động nhằm hạn chế sự gia tăng những vấn đề tâm lý tiêu cực ở HS trong toàn trường. Hoạt động này dành cho cả những đối tượng chưa có hoặc không có khó khăn tâm lý, và cả đối tượng đang có nguy cơ hoặc đã được phát hiện có vấn đề (cần được can thiệp). Có ba loại phòng ngừa cơ bản là: Phòng ngừa mang tính phổ quát dành cho tất cả những HS trong nhà trường; Phòng ngừa những vấn đề đã bộc lộ, đã được phát hiện sớm; Phòng ngừa có lựa chọn hướng vào một số nhóm HS nhất định, những HS này chưa có khó khăn tâm lý nhưng lại có nguy cơ cao như hoàn cảnh gia đình đặc biệt, cha mẹ li hôn, Hoạt động phòng ngừa phổ biến nhất hiện nay vẫn là tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho HS, cán bộ quản lý, GV, nhân viên trong cơ sở giáo dục, gia đình người học và cộng đồng và các bên liên quan về các nội dung sau: • Mối nguy hiểm và hậu quả của bạo lực học đường. • Trách nhiệm phát hiện, thông báo, tố giác hành vi bạo lực học đường; ngăn ngừa và can thiệp kịp thời đối với các hành vi bạo lực học đường phù hợp với khả năng của bản thân; • Giáo dục, trang bị kiến thức, kỹ năng về phòng chống xâm hại người học; phòng chống bạo lực học đường; bạo lực trên môi trường mạng, tư vấn kiến thức, kỹ năng tự bảo vệ cho người học; • Công khai kế hoạch phòng chống bạo lực học đường và các kênh tiếp nhận thông tin, tố giác về bạo lực học đường; Tổ chức kiểm tra, giám sát, thu thập, xử lý thông tin về bạo lực học đường. 1.3.2. Biện pháp hỗ trợ người học có nguy cơ bị bạo lực học đường 14
- - Phát hiện kịp thời người học có hành vi gây gổ, có nguy cơ gây bạo lực học đường, người học có nguy cơ bị bạo lực học đường; - Đánh giá mức độ nguy cơ, hình thức bạo lực có thể xảy ra để có biện pháp ngăn chặn, hỗ trợ cụ thể; - Thực hiện tham vấn, tư vấn cho người học có nguy cơ bị bạo lực và gây ra bạo lực nhằm ngăn chặn, loại bỏ nguy cơ xảy ra bạo lực. Trong nhà trường tiểu học, hoạt động hỗ trợ người học có nguy cơ bị bạo lực học đường là những hoạt động, dịch vụ tâm lý học đường trực tiếp hoặc gián tiếp hướng vào HS trong toàn trường, đặc biệt là những đối tượng được phát hiện (thông qua sàng lọc hoặc đánh giá toàn trường) có nguy cơ hoặc có vấn đề cần được can thiệp. Đối với hoạt động can thiệp trực tiếp thì cán bộ tâm lý trực tiếp thực hiện các chương trình trị liệu. Can thiệp trực tiếp bao gồm cả tham vấn trị liệu, đào tạo kỹ năng (kỹ năng học tập, kỹ năng thư giãn sau khủng hoảng ), trang bị kiến thức, kỹ năng cho CMHS, hỗ trợ nhóm và các chương trình phòng ngừa, phòng ngừa định hướng (hội nhập vào các mối quan hệ ). Đối với chương trình can thiệp gián tiếp: nhà tâm lý đại diện cho HS nói chung và HS tiểu học nói riêng phát triển chương trình giáo dục và trị liệu nhưng không trực tiếp thực hiện các chương trình này. Hoạt động hỗ trợ HS tiểu học có nguy cơ bị bắt nạt và bạo lực học đường tập trung vào những điểm sau: • Phát hiện kịp thời HS có hành vi bắt nạt hoặc HS có nguy cơ bị bắt nạt học đường; • Đánh giá mức độ nguy cơ, hình thức bắt nạt/ bạo lực có thể xảy ra để có biện pháp ngăn chặn, hỗ trợ cụ thể; • Thực hiện hỗ trợ cho HS bằng các hình thức khác nhau như tham vấn, tư vấn; thông báo cho gia đình HS có nguy cơ bị bạo lực và gây ra bạo lực nhằm ngăn chặn, loại bỏ nguy cơ xảy ra bạo lực. 1.3.3. Biện pháp can thiệp khi xảy ra bạo lực học đường - Đánh giá sơ bộ về mức độ tổn hại của người học, đưa ra nhận định về tình trạng hiện thời của người học; - Thực hiện ngay các biện pháp trợ giúp, chăm sóc y tế, tư vấn đối với người học bị bạo lực; theo dõi, đánh giá sự an toàn của người bị bạo lực; - Thông báo kịp thời với gia đình người học để phối hợp xử lý; trường hợp vụ việc vượt quá khả năng giải quyết của cơ sở giáo dục thì thông báo kịp thời với cơ quan công an, Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn và các cơ quan liên quan để phối hợp xử lý theo quy định của pháp luật. Trong trường tiểu học, can thiệp khi xảy ra bạo lực học đường bao gồm các hoạt động như: 15
- • Đánh giá sơ bộ mức độ tổn hại về thể chất và tâm lý của người học, đưa ra nhận định về tình trạng hiện thời của HS; • Thực hiện ngay các biện pháp trợ giúp, chăm sóc y tế (nếu HS có các tổn thương về cơ thể như chảy máu, bầm dập thực hiện tư vấn và hỗ trợ tâm lý cho HS khi bị sang chấn ảnh hưởng đến tinh thần. Sau khi thực hiện đánh giá, tư vấn hỗ trợ thì HS cần được lượng giá và theo dõi để đảm bảo không bị tái bắt nạt/ bạo lực. • Thông báo kịp thời với gia đình người học để phối hợp xử lý; trường hợp vụ việc vượt quá khả năng giải quyết của cơ sở giáo dục thì thông báo kịp thời với cơ quan công an, Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn và các cơ quan liên quan để phối hợp xử lý theo quy định của pháp luật. Nhà trường, giáo viên và gia đình phải nhất quán rằng trừng phạt không thể được xem là cách thức tích cực để ngăn chặn hành vi bạo lực ở trẻ, chúng ta cần phải thay thế trừng phạt bằng các biện pháp giáo dục. Các hình thức phạt nhẹ kết hợp với giáo dục như tổ chức đối thoại giữa học sinh để cả hai cùng lắng nghe chia sẻ cảm xúc của nhau lại có tác dụng tích cực hơn. Đặc biệt, trong quá trình giao tiếp với học sinh, giáo viên phải: - Làm cho học sinh cảm thấy an toàn: luôn giúp các em phân biệt đúng, sai, cách làm để lần sau làm cho đúng; khoan dung với những lỗi lầm và coi những lỗi lầm là thông tin có ích để giúp các em học tốt; làm cho học sinh hiểu rõ không ai có quyền làm tổn thương người khác và mọi người đều có quyền được bảo vệ; thông cảm và chia sẻ trong quá trình nói chuyện cùng các em. - Làm cho học sinh cảm thấy được yêu thương: Tạo môi trường thân thiện trong trường, lớp học và gia đình để các em có thể biểu lộ, cảm thấy được yêu thương; có cử chỉ lời nói ân cần, dịu dàng, lắng nghe tâm sự của học sinh.. - Làm cho học sinh nhận thấy được hiểu, thông cảm: lắng nghe học sinh, cho học sinh cơ hội được bộc lộ cảm xúc, cởi mở, hiểu đặc điểm tâm lý của học sinh, - Làm cho học sinh cảm thấy được tôn trọng: lắng nghe một cách chăm chú, quan tâm, dành thời gian để nhận ra cảm xúc của học sinh, tạo giới hạn và bình tĩnh khi các em vi phạm nội quy, - Làm cho học sinh cảm thấy có giá trị: luôn tiếp nhận ý kiến của học sinh, lắng nghe các em nói, tạo cơ hội cho các em cơ hội bộc lộ bản thân, hưởng ứng các ý tưởng hợp lý của các em. Đồng thời, học sinh cần phải được trang bị những giá trị sống cốt lõi, phát triển kỹ năng giao tiếp cũng như những kỹ năng cần thiết của cuộc sống. Việc trang bị những kỹ năng sống cần thiết để học sinh ứng phó với những tình huống có thể dẫn đến xung đột trong nhà trường ở mỗi học sinh là điều cần thiết. - Nhận biết các dấu hiệu tiền bạo lực như: nhìn đểu, trêu đùa quá khích, bị cho ra rìa, tẩy chay, bị ức hiếp, hăm dọa, để biết cách né tránh khỏi bế tắc trong cách hành xử. 16
- - Nhận biết, phân tích, đánh giá các hành vi, biểu hiện thái độ của những người xung quanh, phân định đâu là đúng – sai, xấu tốt: Đây là kỹ năng quan trọng đối với học sinh, đặc biệt là học sinh tiểu học. Kỹ năng phân biệt hành vi đúng – sai, xấu – tốt sẽ giúp các em tránh xa được các thủ đoạn dụ dỗ lôi kéo vào hành vi xấu, đồng thời giúp các xác định được nguy cơ, hậu quả từ hành vi bạo lực. - Biết cách giao tiếp, hòa nhập với nhóm bạn để phòng chống bạo lực học đường: cần duy trì, phát triển mối quan hệ tích cực với bạn bè, những người xung quang, biết cách chọn bạn mà chơi, tránh những người bạn có nguy cơ tiềm ẩn bạo lực học đường. Khi ở trường tiểu học là thời điểm quan trọng để phát triển các kỹ năng giao tiếp hiệu quả. Trong thời gian này, trẻ đang khám phá các lựa chọn về ngôn ngữ và thông điệp, tìm hiểu về cảm xúc, cố gắng vượt qua áp lực từ bạn bè và xây dựng ý thức về bản thân. Đối với học sinh tiểu học, luyện giao tiếp có thể giúp giải quyết nhiều vấn đề khác nhau. Những vấn đề này có thể bao gồm từ bắt nạt đến áp lực tiêu cực từ bạn bè. Ở lớp một, trẻ em nên nâng cao nhận thức về các lựa chọn ngôn ngữ, chia sẻ sâu hơn về câu chuyện của chính mình, đọc to cho các bạn cùng lớp nghe và thể hiện chất lượng giọng nói nhiều hơn (âm điệu, cao độ, tốc độ và âm lượng). Học sinh lớp hai có thể xác định mối quan hệ giữa lựa chọn ngôn ngữ và vai trò. Ví dụ, những học sinh này nên học cách đóng vai trong các tình huống khó khăn (chẳng hạn như bắt nạt hoặc áp lực tiêu cực từ bạn bè), tóm tắt bằng miệng một câu chuyện, duy trì cuộc trò chuyện với những đứa trẻ và người lớn khác, và phản ứng với cảm xúc của các bạn khác. Học sinh lớp ba cần có hiểu biết về vai trò của giao tiếp trong các môi trường văn hóa và nhóm nhỏ khác nhau. Giáo viên có thể yêu cầu học sinh xác định các đặc điểm tích cực và tiêu cực về bài phát biểu, thảo luận về vai trò giới trong chương trình học, thực hành lãnh đạo các nhóm nhỏ, tham gia thảo luận nhóm và học cách thích nghi bằng cách kể chuyện cho các đối tượng khác nhau. Tiểu học là giai đoạn quan trọng trong quá trình phát triển của trẻ. Đối với nhiều trẻ em, đây là lần đầu tiên chúng tự mình gặp gỡ những người bạn mới và học các quy tắc giao tiếp xã hội. Do vậy, kỹ năng giao tiếp cần hướng các em tới: có khả năng lắng nghe tích cực, có sự đồng cảm, biết cách dùng từ, Ở trẻ em, việc mở rộng vốn từ vựng liên quan cụ thể đến cảm xúc có thể là một điểm khởi đầu tuyệt vời đối với việc phòng chống bạo lực học đường, xâm hại tình dục. - Khi em là nạn nhân của bạo lực học đường, em cần: - Cố gắng trao đổi, thương lượng các cách giải quyết khác thay vì đánh nhau, lùi bước để tránh bạo lực như khi bị trêu chọc, sỉ nhục nên im lặng, coi như không có chuyện gì, đi thẳng 17
- về hướng có đông người khác, nhưng không cam chịu liều mình để chịu trận. - Trong trường hợp không thương lượng được, tìm cách chạy thoát khỏi hiện trường, cố găng tìm nơi tập trung đông đúc dân cư hoặc hét thật to, tìm kiếm sự giúp đỡ của người khác, cố gắng bảo vệ cơ thể, đặc biệt các vùng: đầu, gáy, thái dương, cơ quan nội tạng, Đánh nhau là phương thức cuối cùng để tự vệ, phản kháng và các em nên học một số động tác võ thuật để tự bảo vệ mình. Để phòng tránh từ xa các tình huống bạo lực các em cần: không đi một mình nơi vắng vẻ, tối tăm; không tham gia vào các nhóm bạn thường xuyên có hành vi lệch chuẩn; không tham gia kích bác, nói xấu bạn khác; tôn trọng và không xâm phạm vào cuộc sống riêng tư của bạn; không lấy cắp đồ vật của người khác, ... - Không giấu giếm mọi chuyện mà nên nói chuyện với bố mẹ, người thân, thầy cô để ngăn chặn sự bắt nạt. * Khi em là người chứng kiến hành vi bạo lực: Từ chối những lôi kéo hoặc đề nghị sai trái, hình dung trước hậu quả khi thực hiện hành động bạo lực. - Can ngăn, ngăn chặn hành vi vi phạm, không cổ vũ, không nói bất cứ điều gì khuyến khích thủ phạm tiếp tục thực hiện hành vi. - Gọi điện, tìm cách liên lạc, thông báo cho các cá nhân, tổ chức có liên quan như gia đình, nhà trường, cảnh sát, - Giúp đỡ nạn nhân sơ cứu, cấp cứu. - Có thái độ tử tế, thân thiện với các bạn bị bắt nạt. - Nói chuyện với phụ huynh, giáo viên hoặc người lớn khác mà em tin tưởng để họ có thể giúp đỡ em. * Khi em là người gây ra hành vi bạo lực: - Nhận thức được hành vi sai trái của bản thân, hình dung hậu quả có thể dẫn tới vi phạm pháp luật bị xử lý. - Báo ngay cho gia đình, thầy cô biết, không giấu diếm hay tìm cách che đậy, trốn tránh. - Thể hiện thái độ ăn năn, phối hợp để khắc phục hậu quả. - Tích cực rèn luyện đạo đức, kỉ luật. 2. Một số vấn đề chung về xâm hại tình dục và phòng chống xâm hại tình dục 2.1. Xâm hại tình dục và biểu hiện của hành vi xâm hại tình dục 2.1.1. Xâm hại tình dục 18
- Xâm hại trẻ em hay ngược đãi trẻ em là tất cả những hình thức đối xử tồi tệ về tình cảm hay thể chất, xâm hại tình dục, sao nhãng, đối xử không đúng mức hoặc bóc lột vì mục đích thương mại hay các mục đích khác gây ra tổn hại thực tế hay tiềm ẩn đối với sự phát triển, sự sống còn, sức khỏe hay nhân phẩm của trẻ khi xét về trách nhiệm, lòng tin hay quyền hành. Những năm gần đây, tình trạng xâm hại tình dục và quấy rối tình dục đã trở thành một vấn nạn và là một trong những vấn đề nhức nhối tại các trường Tiểu học tại nước ta. Nhiều học sinh là nạn nhân cảm thấy rõ ràng hơn sự quấy rối và đụng chạm khó chịu. Một số bạn còn cho rằng việc bắt nạt hoặc bạo lực học đường còn khôngnhiều bằng việc quấy rối tình dục tại trường học. Và việc quấy rối tình dục diễn ra âm thầm hơn, tinh vi, bằng nhiều thủ đoạn khác nhau. Xâm hại tình dục Theo Tổ chức Y tế thế giới: “Xâm hại tình dục trẻ em là là sự tham gia của trẻ em vào hoạt động tình dục mà trẻ không hiểu biết đầy đủ, không thể đưa ra sự đồng tình có hiểu biết, không được chuẩn bị cho sự phát triển về mặt sinh lý và tâm lý để tham gia. Đây là hành vi vi phạm pháp luật, trái với thuần phong mỹ tục của xã hội5”. Xâm hại tình dục được định nghĩa là bất kỳ hoạt động tình dục nào với người khác mà không được sự đồng ý của người đó. Nói một cách khác, xâm hại tình dục là việc ép người khác quan hệ bằng cách đe doạ hoặc dùng bạo lực, có khi có cả vũ khí hoặc nguy hiểm không kém là những lời dụ dỗ dựa trên sự cả tin, thiếu hiểu biết của nạn nhân. • Quấy rối tình dục (Sexual harassment) có mức độ nhẹ hơn xâm hại tình dục. Tuy nhiên, về khía cạnh chuẩn mực và đạo đức, đây vẫn là hành vi vi phạm các quy định của luật pháp và các giá trị đạo đức của xã hội. Hành vi quấy rối tình dục thường chỉ đến các hành động hôn không mong muốn, sờ vào ngực hoặc bộ phận sinh dục, vỗ mông, yêu cầu hỗ trợ tình dục, đưa ra nhận xét khiêu dâm, cử chỉ khêu gợi tình dục, bắt chuyện một cách thô tục và kém duyên về vấn đề tình dục, dồn ai đó vào một không gian chật hẹp nhằm đụng chạm hoặc thực hiện ý đồ xấu. • Xao nhãng trẻ em có thể coi là một loại hình đặc biệt của xâm hại. Xao nhãng trẻ em là tất cả các hình thức đối xử tồi tệ, cẩu thả, bỏ mặc, không quan tâm về thể chất, cảm xúc của trẻ em dẫn đến những nguy hại về tính mạng, sự an toàn và sự phát triển của trẻ em. Theo Luật Trẻ em Việt Nam năm 2016, xâm hại trẻ em là hành vi gây tổn hại về thể chất, tình cảm, tâm lý, danh dự, nhân phẩm của trẻ em dưới các hình thức bạo lực, bóc lột, xâm hại tình dục, mua bán, bỏ rơi, bỏ mặc trẻ 19

