Sáng kiến kinh nghiệm Một số giải pháp khắc phục lỗi chính tả cho học sinh Lớp 5, Trường Tiểu học Đại Ân 2A
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số giải pháp khắc phục lỗi chính tả cho học sinh Lớp 5, Trường Tiểu học Đại Ân 2A", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_mot_so_giai_phap_khac_phuc_loi_chinh_t.docx
Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số giải pháp khắc phục lỗi chính tả cho học sinh Lớp 5, Trường Tiểu học Đại Ân 2A
- GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC LỖI CHÍNH TẢ CHO HỌC SINH LỚP 5 TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐẠI ÂN 2A I. ĐẶT VẤN ĐỀ Ở tiểu học, chính tả là một phân môn đặc biệt quan trọng nhằm thực hiện mục tiêu của môn học “Tiếng Việt” là rèn luyện kĩ năng viết chính tả và kĩ năng nghe cho học sinh. Chính tả được hiểu là hệ thống quy tắc về cách viết thống nhất cho các từ của một ngôn ngữ. Nói cách khác, chính tả là những chuẩn mực của một ngôn ngữ được thừa nhận trong ngôn ngữ toàn dân. Mục đích của nó là làm phương tiện cho việc giao tiếp bằng ngôn ngữ, đảm bảo cho người viết và người đọc thống nhất những điều đã viết. Dạy tốt chính tả cho học sinh tiểu học là góp phần rèn luyện một trong bốn kĩ năng cơ bản mà các em cần đạt tới đó là kĩ năng viết đúng. Muốn viết đúng được câu văn, đoạn văn thì trước hết học sinh cần viết đúng đơn vị từ . Việc rèn luyện các quy tắc chính tả sẽ hình thành kĩ năng viết đúng đơn vị từ của học sinh, khi các em đã viết đúng, viết chính xác thì mới có điều kiện học tốt các môn học khác và trên cơ sở đó, các em rèn luyện kĩ năng sử dụng Tiếng Việt có hiệu quả trong thực tiễn. Trong thực tế hiện nay, thói quen và kĩ năng viết đúng chính tả của học sinh tiểu học chưa tốt. Đặc biệt là đối tượng học sinh tiểu học ở vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa do điều kiện học tập ở nhà trường còn hạn chế. Các em ít được rèn luyện về ngôn ngữ qua các phương tiện sách báo... Ngoài ra một số con em người dân tộc, việc nói, nghe hiểu Tiếng việt là một quá trình khó khăn. Vì thông thường các em nghe, hiểu, đọc thế nào viết thế ấy. Chính vì vậy các em cần hiểu đúng, phát âm chuẩn khi viết chính tả. Học tiếng Việt không chỉ để đọc được tiếng Việt, hiểu nghĩa các từ ngữ mà còn phải biết viết đúng chính tả tiếng Việt. Vì vậy, luyện viết đúng chính tả cho học sinh là việc phải làm cấp bách cần phải được coi trọng ở nhà trường nói chung và các lớp cuối cấp nói riêng. Việc các em nắm bắt được các quy tắc, mẹo luật chính tả sẽ giúp học sinh hình thành thói quen viết đúng chính tả từ đó tạo tiền đề để các em học tốt môn Tiếng Việt trong chương trình tiếp bước ở các bậc học sau. Tuy nhiên, trên thực tế học sinh của chúng ta viết sai chính tả khá nhiều, đặc biệt là ở các lớp đầu cấp kéo dài đến cuối cấp học do các em phát âm chưa chuẩn, không phân biệt được các tiếng có phụ âm đầu, vần giống nhau vì khi đọc lên nghe na ná giống nhau. Mặt khác một số em do không hiểu nghĩa của từ hoặc đọc chưa lưu loát. Với thực trạng như thế nên chúng tôi luôn trăn trở làm sao để giúp các em viết đúng, viết đẹp. Vì vậy tập thể GV khối 5 chúng tôi đã mạnh dạn nghiên cứu “Một số giải pháp khắc phục lỗi chính tả cho học sinh lớp 5” nhằm 1
- góp phần nâng cao chất lượng dạy – học môn Tiếng Việt ở Trường Tiểu học Đại Ân 2A. Làm thế nào để khắc phục tình trạng này, góp phần nâng cao chất lượng dạy chính tả cho học sinh trong nhà trường tiểu học. Đặc biệt là cho học sinh lớp 5 cuối cấp, tạo tiền đề cho các em có kĩ năng nghe-viết chính tả tốt nhất để bước sang giai đoạn tiếp. Đó là lý do tôi chọn đề tài “Một số giải pháp khắc phục lỗi chính tả cho học sinh lớp 5, Trường Tiểu học Đại Ân 2A”. II. THỰC TRẠNG 1. Thực trạng. Với thực tế chất lượng của học sinh tại trường tôi công tác thì để đạt được những yêu cầu và những nguyên tắc trên quả là một việc rất khó khăn. Trong thời gian tìm hiểu và nghiên cứu, tập thể chúng tôi thấy được rằng một số lỗi mà học sinh thường mắc phải như sau: + Lỗi do vô ý, chưa cẩn thận, hay quên (thiếu dấu phụ, thiếu dấu thanh) + Lỗi về các vần khó (uênh, oang, oeo, uyên, uyêt ) + Lỗi do phương ngữ (s/x; v/d/gi; an/ang; iu/êu/iêu, in/inh ) + Lỗi do không hiểu nghĩa của từ (nghĩ/nghỉ; để dành - tranh giành) + Lỗi do không nắm được quy tắc chính tả (g/gh; ng/ngh; c/k ) Qua thống kê, chúng tôi thấy học sinh thường mắc phải các lỗi sau: * Về thanh điệu: HS không phân biệt được thanh hỏi, thanh ngã. Đặc biệt do các từ láy hoặc từ Hán – Việt. Ví dụ: sữa chữa, suy nghỉ, mải mê * Về âm đầu: Học sinh còn viết lẫn lộn một số chữ cái ghi các âm đầu sau đây: + g/gh: đua ge, gọn gẽ + ng/ngh: củ ngệ, ngịch, ngợm + c/k: céo co, con ciến + ch/tr: con chăn, chõng che, chẻ châu + Trong đó: ch/tr; s/x; r/g; v/d/gi là phổ biến hơn cả (khoảng 70%). * Về âm chính: HS hay mắc lỗi khi viết chữ ghi các âm chính trong các vần sau: + ai/ay/ây: mây bai + ao/au/âu: lao bàn 2
- + oe/eo: mạnh khẻo * Về âm cuối: HS thường viết lẫn lộn chữ ghi âm cuối trong các vần sau đây: + at/ac: đồ đạt + an/ang: cây bàn + ăt/ăc; ât/âc: giặc/mặt quần áo + ươt/ươc: đến lược, xâm lượt * Về phần vần: HS thường viết lẫn lộn giữa các cặp vần sau đây: + in/inh: tính hiệu, niềm tinh + ui/uôi: lúi huối + ưu/ươu: con hưu + iu/êu/iêu: lìu lĩnh, điều hiêu, dấu hịu * Về quy tắc viết hoa danh từ riêng: Học sinh thường hay mắc lỗi này khi viết tên riêng chỉ người và tên riêng nước ngoài, học sinh lớp tôi chủ nhiệm có khoảng 1/4 hay mắc lỗi này, nhất là những học sinh yếu nếu không được giáo viên nhắc nhở khi đang viết chính tả. 2. Nguyên nhân của thực trạng 2.1. Giáo viên -GV không phân tích sâu cấu tạo các tiếng, từ. Chưa giúp HS hiểu nghĩa của từ. -GV phát âm không chuẩn khi dạy phân môn tập đọc, chính tả dẫn đến hạn chế về học và viết chính tả của học sinh. -Một số giáo viên chưa chú ý đến đặc điểm phương ngữ vùng miền đang ở, không xác định rõ các lỗi chính tả cơ bản của học sinh trong lớp nên việc rèn chính tả không đi vào trọng điểm. -GV bỏ qua các thao tác trong tiến trình giảng dạy như: tìm và luyện viết các tiếng, từ khó vào bảng con, nhận xét sửa chữa bài chưa chu đáo hoặc có làm nhưng chưa sâu sát. -Ở phần bài tập chính tả, một số GV chủ yếu hướng dẫn HS hoàn thành các bài tập mà chưa cung cấp, khắc sâu cho HS các mẹo, luật, quy tắc chính tả được rút ra qua các bài tập. Ví dụ: Quy tắc chỉ viết k, gh, ngh khi sau nó là các âm i, e, ê. Ví dụ: các đồ dùng trong gia đình và tên các con vật thường viết là ch, không viết tr (chổi, chiếu, chảo, chăn, chai, chén, chuông ) 3
- Bên cạnh đó còn tồn tại một thực trạng phổ biến hiện nay là: Nhiều giáo viên chưa nghiên cứu kĩ về chính tả cho bản thân mình và cho học sinh trong giờ dạy các môn học khác. Hầu hết giáo viên chỉ phát âm đúng trong giờ tập đọc, chính tả còn các môn khác phát âm theo kiểu bình thường của người địa phương. Ta vẫn biết rằng việc phát âm không đúng chuẩn cũng ảnh hưởng rất lớn đến chính tả. Ví dụ: Phát âm “con tầm” mà thực chất là “con tằm”. Phát âm “mái tốc’’mà thực chất là “mái tóc”. Phát âm “mầu sắc’’mà thực chất là “màu sắc’’. Phát âm “cây cao” mà thực chất là “cây cau” Chính vì thế, nếu ta không hiểu nghĩa từ thì khó mà viết đúng. Việc phát âm chưa chuẩn ấy luôn diễn ra trước học sinh trong lớp, trong trường và ngoài xã hội. 2.2. Học sinh Một trong những nguyên nhân đưa đến thực trạng học sinh sai chính tả hiện nay là do các em đọc như thế nào viết như thế ấy. Các em chưa nắm vững quy tắc ngữ âm của chữ quốc ngữ, nghĩa của từ và ít được biết đến một số mẹo luật chính tả cơ bản. Một số HS đọc còn chậm, chưa lưu loát dẫn đến các em viết chính tả còn vướng nhiều lỗi. Mặt khác một số em do thiếu tính cẩn thận nên để thừa hoặc thiếu một số nét, thiếu dấu dẫn đến sai lỗi chính tả (chủ yếu thiếu dấu thanh do học sinh dân tộc phát âm không chuẩn). III. GIẢI PHÁP THỰC HIỆN Để khắc phục tình trạng này, góp phẩn nâng cao chất lượng dạy chính tả cho học sinh trong nhà trường. Đặc biệt là cho học sinh lớp 5 của trường chúng tôi đã tiến hành các biện pháp sau : 1. Biện pháp thứ nhất là: Luyện phát âm chuẩn - Để học sinh viết đúng chính tả, giáo viên phải chú ý luyện phát âm cho học sinh để phân biệt các thanh, các âm đầu, âm chính, âm cuối vì chữ quốc ngữ là chữ ghi âm - âm thế nào, chữ ghi lại thế ấy. - Việc rèn phát âm không chỉ được thực hiện trong tiết Tập đọc mà được thực hiện thường xuyên, liên tục và lâu dài trong tất cả các tiết học như Chính tả, Luyện từ và câu, Tập làm văn 4
- - Với những học sinh có vấn đề về mặt phát âm ( nói ngọng, nói lắp ) giáo viên lưu ý học sinh chú ý nghe cô phát âm để viết cho đúng. Vì vậy, giáo viên phải cố gắng phát âm rõ ràng, tốc độ vừa phải mới có thể giúp học sinh viết đúng được. - Giáo viên phải nắm vững thực tế phương ngữ tại địa phương để giúp học sinh nói chuẩn tiếng phổ thông từ đó viết đúng được chính tả. 2. Biện pháp thứ hai là: Giải nghĩa từ - Biện pháp thứ hai để khắc phục lỗi chính tả cho học sinh là giải nghĩa từ. Việc so sánh, giải nghĩa từ thường được thực hiện trong tiết Luyện từ và câu, Tập đọc và Tập làm văn nhưng nó cũng là việc làm rất cần thiết trong tiết Chính tả, khi mà học sinh không thể phân biệt từ khó dựa vào phát âm hay phân tích cấu tạo tiếng. - Có nhiều cách để giải nghĩa từ cho học sinh: Giáo viên có thể cho học sinh đọc chú giải, đặt câu (nếu học sinh đặt câu đúng tức là học sinh đã hiểu nghĩa từ), tìm từ đồng nghĩa, trái nghĩa, miêu tả đặc điểm hoặc sử dụng vật thật qua mô hình, tranh ảnh, Ví dụ: Phân biệt chiêng và chiên + Giải nghĩa từ chiêng: Giáo viên có thể cho học sinh quan sát tranh ảnh cái chiêng hoặc miêu tả đặc điểm (chiêng là nhạc cụ bằng đồng, hình tròn, đánh bằng dùi, âm thanh vang dội). + Giải nghĩa từ chiên: Giáo viên có thể cho học sinh đặt câu với từ chiên hoặc giải thích bằng định nghĩa (chiên là làm chín thức ăn bằng cách cho thức ăn vào chảo dầu, mỡ, đun trực tiếp trên bếp lửa). Còn với những từ nhiều nghĩa, giáo viên phải đặt từ đó trong quan cảnh cụ thể để giải nghĩa từ. 3. Biện pháp thứ ba là: Ghi nhớ “mẹo, luật” chính tả Do không có tiết học quy tắc chính tả riêng biệt và các quy tắc đều tập trung ở phần bài tập. Vì vậy khi dạy học GV cần phải giúp học sinh nắm vững yêu cầu của các bài tập bằng các câu hỏi, bằng lời giải thích. Sau khi hoàn thành bài tập GV cần giúp học sinh rút ra quy tắc, các “mẹo, luật” chính tả cần ghi nhớ. Mẹo luật chính tả là các hiện tượng chính tả mang tính quy luật chi phối rất lớn trong việc viết đúng, vì thế nắm bắt càng nhiều các quy luật này sẽ giúp ích rất nhiều cho giáo viên trong việc khắc phục lỗi chính tả cho học sinh một cách hữu hiệu. Ngay từ lớp 1, các em đã được làm quen với luật chính tả đơn giản như: Các âm đầu k, gh, ngh chỉ kết hợp với ngyên âm i, e, ê. Ngoài ra giáo viên có thể cung cấp thêm cho học sinh một số mẹo luật khác như sau: -Để phân biệt âm đầu s/x: Ta viết s/x theo cấu tạo kiểu láy âm. 5
- + x xuất hiện trong các tiếng có âm đệm như: xuề xoà, xoay xở, xoành xoạch, xuềnh xoàng,... hoặc thường viết x với từ: xôn xao, xa xôi, xanh xao, xí xoá, xoèn xoẹt, xa xả, xinh xắn, xuýt xoa, xì xào, xào xạc, xao xác + s chỉ xuất hiện trong một số ít các âm tiết có âm đệm như: soát, soạt, soạn, soạng, suất hoặc thường viết s với các từ: sáng sủa, sáo sậu, sàm sỡ, san sát, sung sướng, sững sờ, sắc sảo, sửa soạn + Đa số các từ chỉ tên cây và tên con vật thường viết bằng s: si, sồi, sả, sứ, sắn, sung, sao, sim, su su, sậy, sầu riêng, so đũa con vật: sáo, sâu, sên, sam, sán, sếu, sò, sóc, sói, sứa, sáo sậu, sư tử + x và s không cùng xuất hiện trong một từ láy. - Nói chung, cách phân biệt x/s không có quy luật riêng. Cách sửa chữa lỗi duy nhất là nắm nghĩa của từ, rèn luyện trí nhớ bằng cách đọc nhiều và viết nhiều. -Để phân biệt âm đầu tr/ch: - Những danh từ (hay đại từ) chỉ quan hệ thân thuộc trong gia đình chỉ viết với ch (không viết tr): cha, chú, cháu, chị , chồng, chàng, chút, chắt,... - Đa số các danh từ chỉ đồ vật trong nhà và tên con vật thường viết bằng ch: chăn, chiếu, chảo, chổi, chai, chày, chén, chuông, chiêng chuột, chó, chí, chồn, chuồn chuồn, chào mào, châu chấu, chiền chiện, chèo bẻo, chìa vôi -Luật bổng - trầm: Trong các từ láy điệp âm đầu, thanh (hay dấu) của 2 yếu tố ở cùng một hệ bổng (ngang/sắc/hỏi) hoặc trầm (huyền/ngã/nặng). Để nhớ được 2 nhóm này, giáo viên chỉ cần dạy cho học sinh thuộc 2 câu thơ: Cô Huyền té nặng, ngã đau Anh Ngang sắc thuốc, hỏi đau chỗ nào. Nghĩa là đa số các từ láy âm đầu, nếu yếu tố đứng trước mang thanh huyền hoặc thanh nặng thì yếu tố đứng sau sẽ mang thanh ngã, nếu yếu tố đứng trước mang thanh ngang hoặc thanh sắc thì yếu tố đứng sau sẽ mang thanh hỏi và ngược lại. Ví dụ:* Bổng Ngang + hỏi: Nhỏ nhoi, mỉa mai, mải mê, Sắc + hỏi: Mải miết, chải chuốt, trút bỏ, Hỏi + hỏi: Đủng đỉnh, hổn hển, thủ thỉ, rủ rỉ * Trầm Huyền + ngã: Sững sờ, thẫn thờ, lững lờ, buồn bã, Nặng + ngã: Nhẹ nhõm, đẹp đẽ, mạnh mẽ, lạnh lẽo, Ngã + ngã: Rãnh rỗi, nghễnh ngãng, nhõng nhẽo 6
- -Để phân biệt các vần dễ lẫn lộn: Một số từ có vần ênh chỉ trạng thái bấp bênh, không vững chắc: Gập ghềnh, khấp khểnh, chông chênh, lênh đênh, bập bềnh, chếnh choáng, chệnh choạng, lênh khênh, bấp bênh, công kênh Hầu hết các từ tượng thanh có tận cùng là ng hoặc nh: oang oang, đùng đoàng, loảng xoảng, đoàng đoàng, sang sảng, rổn rảng, ùng oàng, quang quác, ăng ẳng, ằng ặc, oăng oẳng, răng rắc, sằng sặc, eng éc, beng beng, chập cheng, leng keng, reng reng, lẻng kẻng, lẻng xẻng, ùng ùng, đùng đùng, thùng thùng, bình bịch, thình thịch, thình thình, rập rình, xập xình, huỳnh huỵch Vần uyu chỉ xuất hiện trong các từ: khuỷu tay, khúc khuỷu, ngã khuỵu, khuỵu chân; Vần oeo chỉ xuất hiện trong các từ ngoằn ngoèo, khoèo chân, vần ooc chỉ xuất hiện ở từ quần xooc, Vần oong chỉ xuất hiện trong từ xoong nồi, cái xoong. Ngoài ra; Cũng có thể cung cấp thêm cho học sinh mẹo luật sau: + Đa số các từ có âm đầu là M, N, Nh, V, L, D, Ng thì viết là dấu ngã (Mình Nên Nhớ Viết Là Dấu Ngã). Ví dụ: M: mãn nguyện; N: nữ giới; Nh: nhẫn nại; V: vũ trang; L: lễ hội; D: dũng cảm; Ng: ngữ pháp, 4. Biện pháp thứ tư: Làm các bài tập chính tả Ở chương trình lớp 5 có rất nhiều dạng bài tập. Ngoài các bài tập chính tả trong chương trình giáo viên có thể đưa ra các dạng bài tập chính tả khác nhau để giúp học sinh tập vận dụng các kiến thức đã học, làm quen với việc sử dụng từ trong văn cảnh cụ thể. Khi tổ chức các hoạt động thực hành luyện tập, tôi lựa chọn hình thức luyện tập phù hợp với từng đối tượng học sinh và phù hợp với từng nội dung bài tập nhằm tạo hứng thú, phát huy tính tích cực của học sinh trong giờ học nhằm giúp học sinh tự tìm ra kiến thức bài tập. Đối với các dạng bài tập khó, thì tổ chức cho học sinh luyện tập dưới hình thức trò chơi hoặc thảo luận nhóm, hiệu quả việc sửa chữa lỗi sẽ tốt hơn. Sau mỗi bài tập, tôi đã rút ra các quy tắc chính tả để các em ghi nhớ. Dạng 1: Bài tập điền khuyết * Điền s/x; ia/ya; c/k; iêt/ iêc vào chỗ trống: s/x: nước ôi, ăn ôi. ia/ya: đêm khu ..; cây m ; c/k: cây ầu, dòng ênh iêt/ iêc: đi biền b ....., xanh biêng b .. * Tìm một vần có thể điền vào cả 3 chỗ trống: Chăn trâu đốt lửa trên đồng 7
- Rạ rơm thì ít, gió đông thì nh Mải mê đuổi một con d Củ khoai nướng để cả ch thành tro. *Tìm tiếng có chứa ia hoặc iê vào chỗ trống: Đông như Gan như cóc Ngọt như . lùi. Dạng 2: Bài tập phát hiện *Tìm từ sai chính tả trong câu sau và sửa lại cho đúng: -Tiếng cô dáo giản bài trang ngiêm mà ấm áp. -Nhà không có chó, bé đành chơi với Cún Bông, con chó của bát hàng sóm. Dạng 3: Bài tập trắc nghiệm * Khoanh tròn vào chữ cái trước những chữ viết đúng chính tả: a. Hướng dẩn b. Hướng dẫn c. Giải lụa d. Dải lụa e. Oan uổng g. Oan uổn Dạng 4: Bài tập tìm từ * Tìm một cặp từ phân biệt âm cuối n hoặc ng: Man/mang ; vần/vầng ; buôn/buông ; vươn/vương * Tìm từ ngữ có chứa những tiếng sau: Sâm/xâm ; sương/ xương ; sưa/xưa ; siêu/xiêu Dạng 5: Bài tập tìm tiếng Học sinh tìm từ ngữ chứa âm, vần dễ lẫn qua gợi ý nghĩa của từ, qua gợi ý từ đồng âm, từ trái nghĩa. *Tìm các tiếng chứa vần iên hoặc iêng có nghĩa như sau: -Bộ phận trên mặt người dùng để nói, ăn uống: -Thức ăn bằng tinh bột, chế biến bằng sợi dài: *Tìm các tiếng có thanh hỏi hoặc thanh ngã có nghĩa như sau: -Trái nghĩa với khó: .. -Chỉ bộ phận cơ thể ở ngay dưới đầu: .. 8
- -Chỉ bộ phận cơ thể dùng để ngửi: .. Dạng 6: Bài tập tìm từ láy * Thi tìm nhanh: Thi tìm nhanh các từ láy âm đầu n Mẫu: náo nức, * Tìm các từ láy theo khuôn vần: an-at/an-ac ; ôn-ôt/ông-ôc ; un-ut/ung-uc Mẫu: man mát, khang khác, Dạng 7: Bài tập phân biệt nghĩa * Tìm những tiếng có nghĩa: Chỉ khác nhau ở âm đầu tr hay ch: Mẫu: Trao (trao đổi) – chao (chao liệng) Dạng 8: Bài tập giải câu đố * Tìm vần chứa o hay ô điền vào chỗ trống rồi giải câu đố sau: Hoa gì đơm rửa lực h Lớn lên hạt ng đầy tr bị vàng? (là gì?) Dạng 9: Bài tập chọn lựa: * Chọn từ thích hợp trong ngoặc điền vào chỗ trống trong câu sau: - Cháu bé đang uống (sửa, sữa) - Học sinh ...........mũ chào thầy giáo. (ngả, ngã). - Đôi này đế rất .. (giày, dày) - Sau khi . con, chị ấy trông thật (xinh, sinh) Dạng 10: Bài tập viết danh từ riêng * Viết một số tên người, tên địa lí mà em biết. * Tìm và viết lại tên các cơ quan, đơn vị sau cho đúng: Nhà hát tuổi trẻ. Nhà xuất bản giáo dục Trường mầm non sao mai Ngoài ra, GV phải kết hợp cho học sinh biết xây dựng cái đúng, loại bỏ cái sai. Bên cạnh việc cung cấp cho học sinh những qui tắc chính tả, hướng dẫn học sinh thực hành luyện tập nhằm hình thành các kĩ xảo chính tả, GV cần đưa ra những trường hợp viết sai để hướng dẫn học sinh phát hiện sửa chữa rồi từ đó hướng các em đi đến cái đúng. 9
- IV. KẾT LUẬN Thực tế để nâng cao chất lượng dạy học Chính tả người giáo viên cần phải tìm hiểu kĩ đối tượng học sinh, hiểu đặc điểm tâm lý của các em. Hơn nữa, còn tùy vào hoàn cảnh giảng dạy cụ thể mà mỗi giáo viên nên tổ chức một giờ dạy theo trình tự hợp lý. Điều quan trọng là phải xuất phát từ đặc điểm ngôn ngữ của học sinh lớp mình phụ trách mà giáo viên lựa chọn nội dung và phương pháp dạy học cho thích hợp. Hiệu quả của một giờ dạy chính tả không chỉ được đo bằng qui trình dạy học và kết quả nhận xét bài cho học sinh trong một tiết học mà còn được đo bằng kết quả hình thành kỹ năng chính tả cho học sinh theo từng khu vực phương ngữ cụ thể sau quá trình dạy học. Trên đây là một số biện pháp mà tập thể GV khối 5 đã đề ra nhằm giúp HS lớp 5 hạn chế lỗi chính tả. Thời gian qua, chất lượng phân môn Chính tả của trường nói chung và khối 5 nói riêng chưa cao nên chúng tôi nghĩ là do chúng ta chưa làm tốt các biện pháp đã nêu trên. Với cách làm này, chúng tôi tin rằng chất lượng phân môn Chính tả của khối 5 nói riêng và của trường nói chung sẽ được nâng lên. Rất mong được sự đóng góp, chia sẽ kinh nghiệm quý đồng nghiệp để chất lượng giáo dục của nhà trường được nâng lên. Tôi xin chân thành cảm ơn! Đại Ân 2, ngày 2 tháng 12 năm 2020 DUYỆT CỦA BGH TẬP THỂ KHỐI 5 10

