Chuyên đề - Những giải pháp hạn chế lỗi chính tả cho học sinh Lớp 2 - Năm học 2018-2029 - Trường Tiểu học Đại Ân
Bạn đang xem tài liệu "Chuyên đề - Những giải pháp hạn chế lỗi chính tả cho học sinh Lớp 2 - Năm học 2018-2029 - Trường Tiểu học Đại Ân", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
chuyen_de_nhung_giai_phap_han_che_loi_chinh_ta_cho_hoc_sinh.doc
Nội dung tài liệu: Chuyên đề - Những giải pháp hạn chế lỗi chính tả cho học sinh Lớp 2 - Năm học 2018-2029 - Trường Tiểu học Đại Ân
- Trang 1 TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐẠI ÂN 2A CHUYÊN ĐỀ TIẾNG VIỆT PHÂN MÔN: CHÍNH TẢ KHỐI 2 TÊN CHUYÊN ĐỀ: “Những giải pháp hạn chế lỗi chính tả cho học sinh lớp 2” Đại Ân 2, ngày 21 tháng 12 năm 2018
- Trang 2 MỤC LỤC STT NỘI DUNG Trang 1 I. Mở đầu 3 2 1. Thuận lợi 3 3 2. Khó Khăn 4 4 II. Mục tiêu 4 5 1. Đối với Ban giám hiệu 4 6 2. Đối với giáo viên 4 7 3. Đối với học sinh 4 8 III. Phân tích sư phạm 4 9 1. Giới thiệu, phân tích chương trình phân môn Chính tả lớp2 4 11 2. Nội dung kiến thức kĩ năng liên quan (kiến thức nền) 5 12 3. Những phương pháp, kỹ thuật dạy học được áp dụng trong 5 chuyên đề 13 4. Dự kiến những khó khăn, sai lầm của học sinh, giáo viên 5 14 5. Một số giải pháp khắc phục lỗi chính tả 7 15 IV. Kế hoạch triển khai và thực hiện chuyên đề 12 16 V. Kết quả các tiết/ bài dạy 13 17 VI. Kết luận sư phạm 13
- Trang 3 NHỮNG GIẢI PHÁP HẠN CHẾ LỖI CHÍNH TẢ CHO HỌC SINH LỚP 2 I. Mở đầu Như chúng ta đã biết “Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người”. Bởi thông qua ngôn ngữ, người ta có thể hiểu được tâm tư, nguyện vọng, tư tưởng, tình cảm. Vì vậy, tiếng Việt ở nhà trường tiểu học là một môn học trung tâm, đóng một vai trò rất quan trọng và cần thiết đối với các em. Kĩ năng nghe – nói, đọc - viết đúng là điều kiện cần thiết trong hoat động học tập của học sinh. Nhưng thực tế, tiếng Việt của chúng ta rất giàu và phong phú, chính vì thế đã gây cho người học không ít khó khăn, nhất là ở các lớp đầu cấp của bậc tiểu học. Học tiếng Việt không chỉ để đọc được tiếng Việt, hiểu nghĩa các từ ngữ mà còn phải biết viết đúng chính tả tiếng Việt. Vì vậy việc dạy học phân môn chính tả cần phải được coi trọng ở nhà trường nói chung và các lớp đầu cấp nói riêng. Việc các em nắm bắt được các quy tắc, mẹo luật chính tả sẽ giúp học sinh hình thành thói quen viết đúng chính tả từ đó tạo tiền đề để các em học tốt môn tiếng Việt trong chương trình. Tuy nhiên, trên thực tế học sinh của chúng ta viết sai chính tả khá nhiều, đặc biệt là ở các lớp đầu cấp do các em phát âm không chuẩn, không phân biệt được các tiếng có phụ âm đầu, vần vì khi đọc lên nghe na ná giống nhau. Mặt khác một số em do không hiểu nghĩa của từ, quên mặt chữ ghi âm v. v. Với thực trạng như thế nên chúng tôi luôn trăn trở làm sao để giúp các em viết đúng, viết đẹp. Vì vậy tập thể GV chúng tôi đã mạnh dạn nghiên cứu “Những giải pháp hạn chế lỗi chính tả cho học sinh lớp 2” nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy – học môn Tiếng Việt nói chung và phân môn Chính tả nói riêng. 1. Thuận lợi -Được sự quan tâm sâu sát của BGH trường, nhất là sự chỉ đạo sát sao của Chi bộ nhà trường. -Tập thể giáo viên luôn có sự đoàn kết thống nhất với lòng yêu nghề, sẵn sàng vượt khó để hoàn thành nhiệm vụ. -Các thành viên trong tổ có tinh thần cầu tiến vươn lên, tích cực tham gia đầy đủ các lớp bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ do Phòng GD và trường tổ chức như: dạy học tích cực, dạy học lồng ghép, tập huấn Thông tư 22/2016 TT – BGDĐT về việc đánh giá học sinh tiểu học. -Có đầy đủ sách giáo khoa, sách giáo viên và các tài liệu tham khảo đáp ứng cho việc nghiên cứu dạy và học. -100 % GV trong khối có máy vi tính, biết sử dụng để soạn giáo án và làm đồ dùng dạy học. -Đa số các giáo viên chủ nhiệm trong tổ đều có thâm niên công tác trên 16 năm và đạt trình độ trên chuẩn về chuyên môn. -Phần đông học sinh được gia đình quan tâm tạo điều kiện học tập, có đầy đủ sách Tiếng Việt, đồ dùng học tập. -Phòng học được lắp quạt gió và đèn chiếu sáng đảm bảo đầy đủ ánh sáng và không khí mát mẻ tạo ra môi trường học tập ngày càng tốt hơn. 2. Khó khăn -Một số hộ gia đình kinh tế còn gặp nhiều khó khăn nên phải đi làm ăn xa, gửi
- Trang 4 con cho ông bà nuôi dưỡng nên việc chăm sóc, quan tâm nhắc nhở các em học tập còn nhiều hạn chế. -Trình độ tiếp thu của các em không đồng đều. -Một số HS chưa nắm vững kiến thức cơ bản chính tả ở lớp dưới. -Một bộ phận không nhỏ phụ huynh chưa quan tâm đến việc học hành của con em mình nên ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng học tập của HS -Một số ít giáo viên còn chậm trong đổi mới phương pháp dạy học, chưa lấy HS làm trung tâm. II. Mục tiêu 1. Đối với Cán bộ quản lí -Qua chuyên đề “Một số giải pháp hạn chế lỗi chính tả cho học sinh lớp 2” giúp cán bộ quản lí có cách nhìn tổng thể hơn về chương trình phân môn chính tả lớp 2. Từ đó có thêm kinh nghiệm trong quản lí chỉ đạo chuyên môn nhằm nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường. 2. Đối với giáo viên -Giúp giáo viên nghiên cứu nắm vững hơn về nội dung chương trình, trau dồi thêm kỹ năng sư phạm cần thiết để dạy tốt phân môn Chính tả. -Giúp giáo viên thấy được thực trạng việc học chính tả của HS và chia sẻ những giải pháp hiệu quả trong việc hạn chế lỗi chính tả cho HS lớp 2 -Giúp giáo viên có kĩ năng sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học cũng như lựa chọn các hình thức tổ chức dạy học phù hợp với từng đối tượng học sinh. -Nâng cao chất lượng dạy học phân môn chính tả lớp 2. 3. Đối với học sinh -Giúp HS hạn chế lỗi chính tả, có thói quen viết đẹp, viết đúng chính tả tiếng Việt. -Giúp cho HS hình thành một số phẩm chất như tính cẩn thận, óc thẩm mĩ, bồi dưỡng cho các em lòng yêu quý tiếng Việt và chữ viết của tiếng Việt. -Có thái độ học tập tích cực hơn trong giờ học Chính tả. III. Phân tích sư phạm 1. Giới thiệu, phân tích chương trình phân môn Chính tả lớp2 Phân phối chương trình chính tả lớp 2 các em học 2 tiết/ tuần. Với 31 tuần bài mới và 4 tuần ôn tập. Tổng cộng có 62 tiết bài mới trong đó tập chép 22 tiết, nghe viết 40 tiết, được phân phối cụ thể như sau: Học kì 1: 32 tiết, trong đó tập chép 15 tiết, nghe viết 17 tiết. Học kì 2: 30 tiết, trong đó tập chép 7 tiết, nghe viết 23 tiết. Nhìn vào phân phối chương trình chúng ta nhận thấy rằng chính tả nghe viết chiếm gần gấp đôi số tiết tập chép và tăng dần ở giai đoạn học kì 2. Cứ khoảng 4 tiết thì có 1 tiết tập chép, 3 tiết nghe viết. 2. Nội dung kiến thức kĩ năng liên quan (kiến thức nền)
- Trang 5 Lớp 1: các em đã được làm quen với các chữ cái và được học cách đọc, viết thông qua phân môn học vần và tập viết, loại bài chính tả tập chép, nghe viết với số lượng chữ rất ít ở giai đoạn nữa cuối học kì 2. Cung cấp cho HS một số quy tắc, mẹo luật chính tả như: quy tắc viết c/k, ng/ngh, g/gh. . . . làm cơ sở cho HS học lên lớp 2. Lớp 2: các em tiếp tục học 2 dạng chính tả tập chép và nghe viết nhưng với số lượng chữ nâng lên khá nhiều khoảng 40 -55 chữ đồng thời củng cố các quy tắc chính tả đã học ở lớp 1. Lớp 3: Ở lớp 3 các em đã đọc thông, viết thạo nên chính tả tập chép chỉ được học 4 bài ở 7 tuần đầu năm, còn lại chủ yếu là nghe viết, làm cơ sở cho học sinh học sang dạng mới là chính tả nhớ viết. 3. Những phương pháp, kỹ thuật dạy học được áp dụng trong chuyên đề 3. 1 Một số phương pháp dạy học chủ yếu -Phương pháp hoạt động nhóm: HS được chia thành các nhóm nhỏ, cùng nhau nghiên cứu giải quyết các vấn đề mà GV đặt ra. Phương pháp này thường được sử dụng trong phần bài tập chính tả. -Phương pháp động não: Giúp học sinh trong một thời gian ngắn nảy sinh được nhiều ý tưởng, nhiều giả định, về một sự tình nào đó, phương pháp này thường được sử dụng trong phần bài tập chính tả. -Phương pháp đàm thoại. -Phương pháp giảng giải. -Phương pháp làm mẫu. -Phương pháp trực quan. 3. 2 Một số kỹ thuật dạy học phân môn chính tả -Kỹ thuật chia nhóm: Chia nhóm nhằm tạo hứng thú, cơ hội cho các em được học hỏi, giúp đỡ lẫn nhau, thân thiện với nhau hơn, . . . -Kỹ thuật giao nhiệm vụ. -Kỹ thuật đặt câu hỏi: Câu hỏi phải đúng trọng tâm, ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu, gợi mở, phù hợp với trình độ của học sinh; kích thích suy nghĩ của các em, và được sắp xếp theo trình tự dễ đến khó. . . 4. Dự kiến những khó khăn, sai lầm của học sinh, giáo viên 4. 1. Những sai lầm của học sinh Ở bậc tiểu học, phân môn Chính tả có vị trí đặc biệt quan trọng bởi vì giai đoạn tiểu học là giai đoạn then chốt trong quá trình hình thành kĩ năng chính tả cho HS. Phân môn Chính tả trong nhà trường có nhiệm vụ giúp HS nắm vững các qui tắc chính tả và hình thành kĩ năng chính tả. Nói cách khác, giúp HS hình thành năng lực và thói quen viết đúng chính tả. Tuy nhiên việc viết đúng chính tả đối với học sinh lớp 2 là một đòi hỏi khá cao vì phần lớn các em chỉ quen với các dạng chính tả tập chép, đồng thời ở lớp 2 số lượng chữ viết nhiều hơn, nên các em viết sai rất nhiều, đặc biệt là ở đầu học kì 1. Qua tìm hiểu và nghiên cứu, tập thể chúng tôi thấy được rằng các em viết sai chính tả do một số nguyên nhân cơ bản sau:
- Trang 6 + Lỗi do vô ý, chưa cẩn thận, hay quên (thiếu dấu phụ, thiếu dấu thanh) + Lỗi về các vần khó (uênh, oang, oeo, uyên, uyêt ) + Lỗi do phương ngữ (s/x; v/d/gi; an/ang; êu/iêu; iu/iêu, in/inh ) + Lỗi do không hiểu nghĩa của từ (nghĩ/nghỉ ; để dành -tranh giành) + Lỗi do không nắm được qui tắc chính tả (g/gh; ng/ngh; c/k ) Qua thống kê, chúng tôi thấy học sinh thường mắc phải các lỗi sau: * Về thanh điệu: HS không phân biệt được thanh hỏi, thanh ngã. Ví dụ: sữa chữa, suy nghỉ * Về âm đầu: Học sinh còn viết lẫn lộn một số chữ cái ghi các âm đầu sau đây: + g/gh: đua ge + ng/ngh: củ ngệ + c/k: céo co + ch/tr: con chăn + ch/tr; s/x; r/g; v/d/gi là phổ biến hơn cả. * Về âm chính: HS hay mắc lỗi khi viết chữ ghi các âm chính trong các vần sau đây: + ai/ay/ây: mây bai + ao/au/âu: lao bàn + oe/eo: mạnh khẻo * Về âm cuối: HS thường viết lẫn lộn chữ ghi âm cuối trong các vần sau đây: + at/ac: đồ đạt + an/ang: cây bàn . + ăt/ăc: mặt quần áo + in/inh: tính hiệu, niềm tinh 4. 1. Những sai lầm của giáo viên -GV không phân tích cấu tạo các tiếng, từ. Chưa giúp HS hiểu nghĩa của từ. -GV phát âm không chuẩn khi dạy phân môn tập đọc, chính tả. -GV chưa mạnh dạn trong việc lựa chọn các bài tập phương ngữ -GV bỏ qua các thao tác trong tiến trình giảng dạy như: tìm và luyện viết các tiếng, từ khó vào bảng con hoặc có làm nhưng chưa sâu sát. -Ở phần bài tập chính tả, GV chủ yếu hướng dẫn HS hoàn thành các bài tập mà chưa cung cấp, khắc sâu cho HS các mẹo, luật, quy tắc chính tả được rút ra qua các bài tập. VD: Quy tắc chỉ viết k, gh, ngh khi sau nó là các âm i, e, ê. VD: các đồ dùng trong gia đình và tên các con vật thường viết là ch, không viết tr (chổi, chiếu, chảo, chăn, chai, chén, chuông. . . ) 5. Một số giải pháp khắc phục lỗi chính tả
- Trang 7 5. 1. Luyện phát âm chuẩn Muốn học sinh viết đúng chính tả, trước hết giáo viên phải chú ý luyện phát âm cho học sinh để phân biệt các thanh, các âm đầu, âm chính, âm cuối vì chữ quốc ngữ là chữ ghi âm, giữa cách đọc và cách viết thống nhất với nhau. Do đó có đọc đúng và ghi nhớ âm đúng thì học sinh sẽ tái hiện và viết đúng. Giáo viên phải cố gắng phát âm thật chuẩn, tốc độ vừa phải mới có thể giúp học sinh viết đúng. Ví dụ: phát âm ch/tr; s/x; in/ inh; Giúp học sinh khắc phục lỗi viết sai ch/tr tôi thực hiện như sau: đọc cho học sinh viết chính tả, GV phải phát âm chuẩn những tiếng có âm tr như cần uốn lưỡi lên để các em phân biệt, sau đó yêu cầu học sinh lặp lại rồi mới viết vào vở. Bên cạnh đó tôi cũng hướng dẫn các em nhớ các mẹo luật chính tả khi viết ch/tr -Từ ngữ chỉ người thân trong gia đình thường viết ch: cha, chú, chồng, cháu, chắt, chít. . . . -Từ chỉ đồ dùng, dụng cụ thường viết ch: chảo, chén, chiếu, chìa khóa, chăn, cái chiêng, chai, chổi, cầu chì, khăn choàng, dây chuyền . . Mẹo viết Thanh hỏi/thanh ngã cần được GV quan tâm khi đọc mẫu ở phân môn Tập đọc, khi đọc cho HS viết Chính tả như đọc hơi nặng và kéo dài hơn ở tiếng có thanh ngã. Mẹo kết hợp giữa các dấu thanh theo nhóm khi viết: huyền-ngã-nặng ; sắc-hỏi- ngang. (nặng trĩu, buổi sáng. . . . ) 5. 2. Phân tích, so sánh, giải nghĩa từ Với những tiếng khó, giáo viên áp dụng biện pháp phân tích cấu tạo tiếng, so sánh với những tiếng dễ lẫn lộn, nhấn mạnh những điểm khác nhau để học sinh ghi nhớ. Ví dụ: Khi viết từ “mái tóc” học sinh dễ lẫn lộn với tiếng “máy tóc” giáo viên yêu cầu học sinh phân tích cấu tạo cũng như nghĩa hai từ này. + mái = m + ai + thanh sắc. Mái tóc có nghĩa là phần tóc ở trên đầu + máy = m + ay + thanh sắc. Những vật có động cơ như: máy cày, máy bay, xe máy. . . Do ảnh hưởng phương ngữ của vùng miền khác nhau, cách phát âm đôi khi chưa thống nhất với chữ viết nên học sinh cần nắm rõ nghĩa của từ để viết cho đúng. Ví dụ: HS đọc “suy nghĩ” nhưng viết “suy nghỉ” do đó học sinh cần hiểu nghĩa của từ “nghỉ” có nghĩa là tạm ngừng một hoạt động nào đó (nghỉ ngơi, nghỉ tay, nghỉ việc, nghỉ hè. . . ), còn “nghĩ” là vận dụng trí tuệ tính toán điều gì đó, Vì vậy phải viết là“suy nghĩ”. (suy nghĩ, ngẫm nghĩ, nghĩ ngợi. . . ) Việc giải nghĩa từ thường được thực hiện trong tiết Luyện từ và câu, Tập đọc, Tập làm văn nhưng nó cũng là việc làm rất cần thiết trong tiết Chính tả khi mà HS không thể phân biệt từ khó dựa vào phát âm hay phân tích cấu tạo tiếng. 5. 3. Ghi nhớ “mẹo, luật” chính tả Do không có tiết học quy tắc chính tả riêng biệt và các quy tắc đều tập trung ở phần bài tập. Vì vậy khi dạy học GV cần phải giúp học sinh nắm vững yêu cầu của các bài tập bằng các câu hỏi, bằng lời giải thích. Sau khi hoàn thành bài tập GV cần giúp
- Trang 8 học sinh rút ra quy tắc, các “mẹo, luật” chính tả cần ghi nhớ Sau mỗi bài tập đã được sửa chữa, GV cần cho các em đọc lại để ghi nhớ cách phát âm đúng đồng thời cũng cần giải nghĩa một số từ ngữ khó ở phần bài tập để các em nắm hiểu nghĩa của từ. Mẹo luật chính tả là các hiện tượng chính tả mang tính quy luật chi phối rất lớn trong việc viết đúng, vì thế nắm bắt càng nhiều các quy luật này sẽ giúp ích rất nhiều cho giáo viên trong việc khắc phục lỗi chính tả cho học sinh một cách hữu hiệu. Ngay từ lớp 1, các em đã được làm quen với luật chính tả đơn giản như: Các âm đầu k, gh, ngh chỉ kết hợp với ngyên âm i, e, ê. Ngoài ra giáo viên có thể cung cấp thêm cho học sinh một số mẹo luật khác như sau: -Để phân biệt âm đầu s/x: Đa số các từ chỉ tên cây và tên con vật thường viết bằng s: si, sồi, sả, sứ, sắn, sung, sao, sim, su su, sậy, sầu riêng, so đũa con vật: sáo, sâu, sên, sam, sán, sếu, sò, sóc, sói, sứa, sáo sậu, sư tử -Viết s/x theo cấu tạo kiểu láy âm. + Thường viết s với các từ: sáng sủa, sáo sậu, sàm sỡ, san sát, sung sướng, sững sờ, sắc sảo, sửa soạn + Thường viết x với từ: xôn xao, xa xôi, xanh xao, xí xoá, xoèn xoẹt, xa xả, xinh xắn, xuýt xoa, xì xào, xào xạc, xao xác -Để phân biệt âm đầu tr/ ch: Đa số các từ chỉ đồ vật trong nhà và tên con vật thường viết bằng ch: chăn, chiếu, chảo, chổi, chai, chày, chén, chuông, chiêng chuột, chó, chí, chồn, chuồn chuồn, chào mào, châu chấu, chiền chiện, chèo bẻo, chìa vôi -Những tiếng có dấu ngã và dấu nặng thường viết d: dã man, diễn viên, hấp dẫn, dĩ nhiên, dũng cảm, dạ hội, đồng dạng -Những tiếng có dấu sắc, dấu hỏi thường viết gi: giả định, giải thích, giảng giải, giá cả, giám sát, tam giác, biên giới. . . . 5. 4. Làm các bài tập chính tả phương ngữ do GV tự thiết kế Giáo viên có thể đưa ra các dạng bài tập chính tả khác nhau để giúp học sinh tận dụng các kiến thức đã học, làm quen với việc sử dụng từ trong ngữ cảnh cụ thể. Sau mỗi bài tập, giáo viên giúp các em rút ra các qui tắc chính tả để ghi nhớ. * Bài tập điền khuyết Điền vào chỗ trống cho thích hợp: + d, r hoặc gi: án cá, . ễ . ãi, đêm . ao thừa, xếp hàng . ọc. + s hoặc x: . ôn . ao, . a . ôi, . ung phong. + ươn hoặc ương: s mù, v rau, cá , vấn v * Bài tập tìm từ Tìm các từ chứa tiếng có vần “ướt” hoặc “ước” có nghĩa như sau: -Dụng cụ để đo, vẽ, kẻ: -Người chuyên nghiên cứu, bào chế thuốc chữa bệnh: Tìm từ ngữ có thanh hỏi hoặc thanh ngã có ý nghĩa như sau:
- Trang 9 -Trái nghĩa với từ thật thà: . . -Đoạn đường nhỏ hẹp trong thành phố: Tìm các từ ngữ chỉ đồ vật có thanh hỏi: Tìm các từ ngữ chỉ đồ vật có thanh ngã: * Bài tập phân biệt Đặt câu để phân biệt từng cặp từ sau: chúc -chút mở -mỡ dành-giành chiên – chuyên Ngoài ra, GV phải kết hợp cho học sinh biết xây dựng cái đúng, loại bỏ cái sai. Bên cạnh việc cung cấp cho học sinh những qui tắc chính tả, hướng dẫn học sinh thực hành luyện tập nhằm hình thành các kĩ xảo chính tả, GV cần đưa ra những trường hợp viết sai để hướng dẫn học sinh phát hiện sửa chữa rồi từ đó hướng học sinh đi đến cái đúng. 5. 5 Chuẩn bị tiết dạy 5. 5. 1. Đối với giáo viên -Chuẩn bị nội dung bài dạy chu đáo, dự kiến những từ khó HS hay viết sai, dễ sai để các em luyện viết, phân tích, giải nghĩa từ. -Dặn dò HS xem, đọc bài trước và tìm các tiếng, từ dễ viết sai, dễ lẫn lộn đồng thời nghiên cứu trước các bài tập. -Ghi nhận các hiện tượng chính tả sai nhiều của tiết học trước để luyện viết lại trong tiết học liền kề -Chuẩn bị tốt về đồ dùng dạy học cần thiết như: phấn màu, các bài tập được viết trước vào giấy hoặc bảng phụ, ngoài ra còn có bảng con, viết, tập để khi học sinh quên không mang theo những dụng cụ trên thì GV cho các em mượn sử dụng, tuyệt đối không để các em ngồi chơi ảnh hưởng trong giờ học. 5. 5. 2. Đối với học sinh -Học sinh đọc trước bài chính tả sắp viết trong sách giáo khoa và tự tìm các tiếng khó viết, các hiện tượng chính tả để luyện viết trước cũng như liệt kê trong tiết học. -Sau mỗi tiết chính tả các em đã được bạn bè và thầy cô chỉ ra những tiếng, từ viết sai nên các em cần phải luyện viết lại ở nhà để ghi nhớ cách viết đúng. -Bảng con, phấn, bông lau bảng, bút chì, cục tẩy, bút mực, vở viết chính tả, sách giáo khoa . 5. 6. Tổ chức dạy học trên lớp 5. 6. 1. Kiểm tra bài cũ -Trước khi dạy bài mới sẽ là phần kiểm tra bài cũ: GV yêu cầu cả lớp viết vào bảng con các từ khó đã viết sai nhiều ở tiết trước, sau đó mời học sinh nhận xét bảng và sửa chữa, nếu HS viết tốt GV cần khen ngợi ngay, đặc biệt chú ý đến những học sinh còn hạn chế về chuẩn kiến thức kĩ năng nhằm kích thích sự hứng thú học tập cho các em. 5. 6. 2. Bài mới
- Trang 10 5. 6. 2. 1. Hướng dẫn viết chính tả -GV sẽ đọc mẫu bài chính tả với giọng thật chuẩn, vừa đủ nghe. Học sinh phải chú ý lắng nghe dò theo bài để ghi những tiếng có vần khó, dễ viết sai đã được chuẩn bị trước ở nhà. -Yêu cầu học sinh khá đọc lại bài (nên chọn HS có giọng đọc chuẩn) -GV hướng dẫn giúp HS tìm hiểu nội dung bài chính tả -Ở mỗi bài chính tả, GV phải giúp học sinh nhận xét những hiện tượng chính tả bằng cách đặt những câu hỏi đại khái như: + Bài chính tả gồm có mấy câu? + Cuối mỗi câu phải có dấu gì? + Những chữ đầu câu, đầu đoạn các em phải viết thế nào? + Ngoài những chữ đầu câu đầu đoạn được viết hoa còn những tiếng nào được viết hoa? + Vì sao lại viết hoa những tiếng đó? + Bài chính tả theo thể thơ này chúng ta cần trình bày ra sao? + -GV yêu cầu học sinh nêu một số từ các em thường viết sai, sau đó GV dùng phấn màu gạch chân hoặc ghi bảng nhanh các tiếng các em vừa nêu, tôi chọn lọc những tiếng khó học sinh thường viết sai sau đó yêu cầu học sinh phân tích tiếng với câu hỏi: + Tiếng đó gồm có phụ âm gì? vần gì? dấu thanh gì? -Sau khi học sinh trả lời, GV ghi bảng. Ví dụ: giảng: gi + ang + hỏi. -Nếu là tiếng từ khó GV cần kết hợp giải nghĩa, so sánh để HS hiểu nghĩa của từ. -Khi đã phân tích các tiếng, từ xong GV cho học sinh luyện viết trên bảng lớp, cả lớp viết vào bảng con các từ đó. -Yêu cầu học sinh nhận xét bảng con, bảng lớp và đọc lại trước khi xóa bảng nhằm giúp các em ghi nhớ cách đọc đúng để viết đúng chính tả. 5. 6. 2. 2. Viết chính tả -Nhằm giúp các em ghi nhớ mặt chữ, ít mắc lỗi chính tả, GV cần cho cả lớp đọc đồng thanh bài viết 1 lần. -Trước khi học sinh viết chính tả, GV cần nhắc lại tư thế ngồi viết, cách trình bày dạng thơ hoặc văn xuôi, các tên riêng trong bài . -GV đọc chậm rãi, rõ ràng để HS viết. Cần chú ý ngắt nghỉ giữa các cụm từ rõ nghĩa. -GV cần đặc biệt chú ý đến những HS còn chậm, thường sai lỗi chính tả để kịp thời khắc phục, giúp đỡ các em hoàn thành bài viết. -Đọc cho HS soát lại bài lần cuối, chú ý những âm vần khó. 5. 6. 2. 3. Sửa lỗi
- Trang 11 -Khi viết xong bài, GV cần giúp học sinh kiểm tra sửa lỗi bằng cách đổi vở (2 bạn ngồi cạnh nhau đổi vở cho nhau, ) đối chiếu bài của bạn với bài viết trên bảng lớp rồi dùng bút chì gạch chân tiếng, từ sai và sửa lại từ đúng ra ngoài lề vở chính tả. Riêng những HS còn chậm GV cần xuống tới chỗ để giúp đỡ cho các em biết cách tự sửa lỗi. -Để nắm bắt nhanh việc ghi bài của HS ngay tại lớp, GV hỏi: + Bạn nào viết đúng hết không sai lỗi giơ tay thầy xem? + Bạn nào sai 1 lỗi giơ tay thầy xem? + Bạn nào sai 2 lỗi giơ tay thầy xem? + + Bạn nào sai trên 5 lỗi giơ tay thầy xem? -Với việc HS không sai lỗi nào GV cần tuyên dương, khuyến khích kịp thời. Sau đó thu 5-6 vở để nhận xét lỗi về chữ viết, chính tả, cách trình bày . GV thống kê những tiếng, từ đa số học sinh viết sai, hướng dẫn học sinh viết lại cho đúng. Ðối tượng được chọn chấm sửa bài ở mỗi giờ là những HS viết chậm hoặc hay mắc lỗi cần được chú ý rèn luyện thuờng xuyên hoặc những học sinh đến lượt phải nhận xét, những HS còn lại sẽ được GV nhận xét sau tiết học đảm bảo tất cả HS đều được GV quan tâm giúp đỡ hoàn thành bài học. 5. 6. 2. 4. Hướng dẫn làm bài tập chính tả Để giúp các em hứng thú học tập và lớp học thêm phần sinh động, GV cần tổ chức nhiều hình thức hoạt động phù hợp vào từng loại bài tập như thi đua tiếp sức, bảng con, thảo luận nhóm -Các loại bài tập chính tả: + Bài tập bắt buộc (chung cho các vùng phương ngữ): Nội dung các bài tập này là luyện viết các âm, vần, thanh khó. GV có thể lưu ý HS ghi nhớ một số trường hợp khó để tránh viết sai. + Bài tập lựa chọn cho từng vùng phương ngữ: Nội dung các bài tập này là luyện viết phân biệt các âm, vần dễ lẫn do ảnh hưởng của cách phát âm địa phương. Ví dụ: ch/tr, s/x, d/r/gi (Bắc Bộ) ; an/ ang, ac/ at, thanh hỏi/ thanh ngã (Nam Bộ) ; ui/uôi, im/ iêm, thanh hỏi/ thanh ngã (Trung Bộ). GV căn cứ vào thực tế phát âm và lỗi chính tả của HS lớp mình mà chọn bài tập sao cho thích hợp với từng đối tượng HS. -Huớng dẫn HS làm bài tập chính tả: + Giúp HS nắm vững yêu cầu của bài bằng cách đọc lệnh rõ ràng. Có thể hỏi hoặc giải thích thêm nếu nghĩ rằng HS chưa thực sự hiểu yêu cầu của bài. + Với những dạng bài mới, bài khó có thể chữa một phần bài mẫu cho cả lớp cùng quan sát. + GV quan sát giúp đỡ những HS còn chậm. + Chữa toàn bộ bài tập và rút ra các quy tắc mẹo luật chính tả cần ghi nhớ cũng như giải nghĩa một số từ khó HS chưa hiểu. 5. 6. 2. 5. Củng cố dặn dò -Chuẩn bị bài cho tiết sau. GV hướng dẫn như nội dung mục 5. 5
- Trang 12 -Nhận xét đánh giá tiết học. IV. Kế hoạch triển khai và thực hiện chuyên đề (Thực hiện và áp dụng trong năm học 2018 – 2019) Người thực Thời gian Công việc Sản phẩm hiện Nhóm, cá nhân nghiên cứu, TTT, GV tổ Tuần 15 phân tích sư khối 2 1. Nghiên cứu phạm và phân tích Thống nhất Văn bản báo sư phạm phân tích và kế TT, GV tổ khối cáo theo mẫu Tuần 16 hoạch triển 2 đề cương. khai chuyên đề Họp thông qua TT, GV tổ khối Tuần 17 báo cáo khoa 2 học về CĐ 2. Soạn bài, Bản thiết kế dạy thể Cả tổ thiết kế, các bài dạy và Tiết 16: Trâu nghiệm, dự GV dạy: Nhan phiếu dự giờ Tuần 16 ơi (trang 136) giờ thảo luận Quốc Vĩnh tiết dạy Họp thảo luận TT, GV khối 2 Thông qua kết Tổ Trưởng Biên bản họp luận thảo luận Hoàn chỉnh kết Tổ Trưởng 3. Thảo luận luận chung, KLSP Viết tổng kết Tuần 17 Tổ Trưởng và hoàn chỉnh CĐ Văn bản tổng chuyên đề. Báo cáo tổng hợp Tổ Trưởng kết chuyên đề Hoàn chỉnh lần cuối, viết báo Tổ Trưởng Viết chuyên đề cáo CĐ V. Kết quả các tiết/ bài dạy Thiết kế các bài dạy thể nghiệm/đối chứng, so sánh 4 lớp: 2A, 2B, 2C, 2D với nhau. Sau khi áp dụng những giải pháp từ nội dung chuyên đề, tiến hành dạy thực nghiệm ở 4 lớp hai năm học 2018-2019, theo dõi sự tiến bộ của HS trong phân môn chính tả, kết quả đạt được rất khả quan, cụ thể như sau:
- Trang 13 Nhìn vào bảng số liệu chúng ta thấy, khi áp dụng các giải pháp thì số HS viết sai viết đúng viết sai dưới viết sai từ 5- viết sai trên 8 Năm học TSHS chính tả 5 lỗi 7 lỗi lỗi khối 2 TS % TS % TS % TS % 2018-2019 124 12 9, 67 35 28, 22 40 32, 25 37 29, 83 (đầu năm) 2018-2019 124 22 17, 74 43 34, 67 33 26, 61 26 20, 96 (cuối HK1) chính tả đã giảm hẳn so với đầu năm. Mặc dù số giảm chưa nhiều vào thời điểm này nhưng với những giải pháp đã được chúng tôi áp dụng, tin rằng cuối năm học 2018- 2019 này số HS viết sai lỗi chính tả sẽ giảm nhiều hơn nữa, tạo đà cho HS học tốt môn Tiếng Việt nói chung và phân môn chính tả nói riêng. VI. Kết luận sư phạm Việc phát hiện lỗi chính tả, thống kê, tìm nguyên nhân mắc lỗi, từ đó đưa ra các biện pháp khắc phục là rất cần thiết không thể thiếu trong quá trình dạy học Tiếng Việt. Tuy nhiên việc sửa chữa, khắc phục lỗi chính tả là cả một quá trình lâu dài, đòi hỏi người giáo viên phải kiên trì, bền bỉ, không được nôn nóng. Bởi vì có những học sinh tiến bộ ngay trong vài tuần nhưng cũng có những học sinh sự tiến bộ diễn ra rất chậm, có khi vài tháng, thậm chí cả một học kỳ. Nếu giáo viên không biết hướng dẫn, chờ đợi thì kết quả đạt được sẽ không cao. Bên cạnh đó GV phải biết dùng nhiều hình thức rèn luyện, khen thưởng và động viên học sinh kịp thời. Hạn chế không nên trách phạt, chê trách các em trước lớp làm cho các em mặc cảm tự ti và bạn bè có ấn tượng không tốt về các em, đặc biệt chú ý nhiều đến HS còn hạn chế về chuẩn kiến thức kĩ năng đọc, viết. Để dạy tốt phân môn này, đòi hỏi người giáo viên cần phải: + Kiên trì thực hiện đổi mới phương pháp dạy học. Cần nắm bắt rõ năng lực học tập, tâm sinh lý của từng đối tượng học sinh để giảng dạy có hiệu quả. + Nắm được các lỗi chính tả phổ biến của học sinh vùng mình đang dạy. + Nắm được nguyên nhân vì sao các em thường viết sai chính tả. + Nắm thật chính xác năng lực học tập của học sinh lớp mình, từng đối tượng học sinh, trọng tâm của từng tiết dạy. Trên cơ sở đó, linh hoạt sáng tạo để xây dựng nội dung, lựa chọn phương pháp phù hợp cho tiết dạy. + Khi đọc mẫu giáo viên cần phải phát âm với giọng thật chuẩn, rõ ràng. + Nắm được nghĩa của của từng bài dạy cụ thể. + Nắm thật vững các quy tắc chính tả, các mẹo luật, các trường hợp chính tả theo thói quen để cung cấp cho HS. + Học sinh phải có và biết sử dụng bảng con như một công cụ học tập cần thiết. + Phải hướng dẫn các em biết cách tự học, tự chuẩn bị tốt cho từng tiết học.
- Trang 14 Đại Ân 2, ngày 20 tháng 12 năm 2018 DUYỆT CỦA BAN GIÁM HIỆU TỔ TRƯỞNG Nhan Quốc Vĩnh

