Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp bồi dưỡng học sinh Lớp 5 cảm thụ Văn học
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp bồi dưỡng học sinh Lớp 5 cảm thụ Văn học", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_boi_duong_hoc_sinh_lo.docx
Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp bồi dưỡng học sinh Lớp 5 cảm thụ Văn học
- GIÚP HỌC SINH CẢM THỤ VĂN 5 A. PHẦN MỞ ĐẦU : 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI " Bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa cho học sinh" là một nhiệm vụ rất quan trọng trong chương trình Tiếng việt ở cấp Tiểu học. Phải nói rằng khi đọc những áng văn thơ hay, cảm nhận được hết cái hay, cái đẹp của nó sẽ khiến cho tâm hồn ta bay bổng, thư thái, trong sáng và thánh thiện biết nhường nào, đặc biệt là đối với tâm hồn các em được ví như tờ giấy trắng. Văn, thơ chính là hạt giống tâm hồn. Còn cảm thụ văn học chính là cái nôi nuôi dưỡng tâm hồn trẻ thơ. Qua thơ, văn, vốn sống thực tế sẽ giúp em cải thiện tâm hồn rất nhiều. Từ đó sẽ giúp các em yêu đời và sống có ý nghĩa. Tình yêu tiếng việt cũng theo đó mà nhân lên. Với học sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp 5 nói riêng thì việc làm một đề văn cảm thụ văn học chính là thử thách không nhỏ. Các em thường ngại viết cảm thụ và có viết cũng không biết bắt đầu từ đâu, trình tự như thế nào, làm cách nào để viết cho hay, cho hết ý mà tác giả muốn nói. Kể cả giáo viên, trước một bài cảm thụ cũng phải nghiên cứu suy nghĩ phương pháp nào tối ưu để truyền tải được hết ý trong từng đoạn văn, câu thơ cho học sinh. Bằng kinh nghiệm và niềm yêu thích của mình tôi muốn truyền cho các em ngọn lửa đam mê cảm thụ văn học. Tôi muốn các em học sinh yêu cảm thụ văn học như yêu một món ăn ngon, muốn khám phá nó như khám phá một câu chuyện cổ tích thần kỳ. Điều này thật không dễ dàng nhưng tôi thiết nghĩ “mưa dầm thấm lâu”, cứ cố gắng nhất định sẽ thành công. Vì những lý do trên nên tôi quyết định chọn nghiên cứu đề tài : Một số biện pháp bồi dưỡng học sinh lớp 5 viết cảm thụ văn học. 2. MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
- 2.1. Mục đích nghiên cứu Học sinh nắm được cách viết một đoạn cảm thụ đúng trọng tâm và có sự liên kết chặt chẽ giữa 3 phần trong đoạn cảm thụ (mở đoạn, thân đoạn, kết đoạn). - Mở đoạn: Trả lời thẳng vào câu hỏi của đề bài. - Thân đoạn: nêu rõ các ý theo yêu cầu đề bài. - Kết đoạn: liên hệ mở rộng bằng một câu ngắn gọn để gói lại nội dung đoạn cảm thụ. Đoạn cảm thụ của các em cần diễn đạt một cách hồn nhiên, trong sáng và bộc lộ cảm xúc phù hợp với đối tượng là học sinh Tiểu học. 2. 2. Nhiệm vụ nghiên cứu - Nghiên cứu lí luận của vấn đề cảm thụ văn học trong chương trình Tiếng việt Tiểu học. - Điều tra thực trạng , chất lượng học tập cảm thụ văn học của học sinh tại lớp đang dạy ở trường Tiểu học đang công tác. - Tìm hiểu nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp ảnh hưởng đến chất lượng học tập của phần cảm thụ văn học. - Đề xuất mới: Trang bị cho học sinh mình đang dạy cách thức, kĩ năng làm một bài văn cảm thụ thông qua dạy các phân môn Tiếng việt như tập đọc, tập làm văn, luyện từ và câu, chính tả, kể chuyện, các hoạt động trải nghiệm,... từ đó bồi dưỡng tình yêu của các em đối với văn thơ. 3. ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. 3.1. Đối tượng nghiên cứu. - Các biện pháp bồi dưỡng học sinh lớp 5 viết cảm thụ văn học. 3.2. Thời gian nghiên cứu - Năm học 2017 – 2018 3.3 Phương pháp nghiên cứu: Để hoàn thành đề tài này tôi đã sử dụng một số phương pháp sau:
- - Phương pháp đọc, phân tích : đọc và phân tích các tài liệu có liên quan về vấn đề bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học cho học sinh Tiểu học. - Phương pháp điều tra: Điều tra thực trạng học trong công tác bồi dưỡng năng lực viết cảm thụ của học sinh. Lấy ý kiến của giáo viên và học sinh để thu thập thông tin nghiên cứu. - Phương pháp đàm thoại: Trực tiếp trò chuyện với giáo viên, học sinh để tìm hiểu nhận thức như thế nào về vai trò, ý nghĩa của việc rèn kĩ năng viết cảm thụ. - Phương pháp quan sát: Dự giờ và quan sát giờ dạy của giáo viên : Quan sát cách lồng ghép cảm thụ khi tìm hiểu nội dung ý nghĩa của bài văn, bài thơ; quan sát cách hiểu, cách nói, cách cảm nhận của học sinh về văn, thơ... - Phương pháp lấy ý kiến đồng nghiệp: Gặp trực tiếp những giáo viên có kinh nghiệm, các nhà quản lý xin ý kiến, trao đổi về những vấn đề có liên quan đến đề tài. - Phương pháp thực nghiệm: Kiểm nghiệm tính khoa học, tính khả thi của các biện pháp đã đề xuất. - Phương pháp thống kê toán học: thống kê các số liệu liên quan. 4. ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI: - Trang bị cho học sinh lớp 5 những hiểu biết nhất định về cảm thụ văn học; rèn kĩ năng viết bài cảm thụ; biết vận dụng nhuần nhuyễn, linh hoạt các bước làm một bài cảm thụ. - Bồi dưỡng tâm hồn trong sáng, yêu đời, yêu con người, cảnh vật từ đó yêu gia đình, quê hương đất nước. B. PHẦN NỘI DUNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1. Cơ sở lí luận Cảm thụ văn học chính là cảm nhận những giá trị nổi bật, những điều sâu sắc, tế nhị và đẹp đẽ của văn học thể hiện trong tác phẩm (cuốn truyện, bài văn, bài thơ,...) hay một bộ phận của tác phẩm (đoạn văn, đoạn thơ, ... thậm chí một từ ngữ có giá trị trong câu văn, câu thơ. Chính vì vậy, cảm thụ văn học ở Tiểu học không có một tiết học cụ thể nào mà học sinh được học, làm quen qua các tiết học trong
- môn Tiếng Việt như : Tập đọc, Tập làm văn, Luyện từ và câu, Kể chuyện, Chính tả. Vì không có thời lượng cụ thể cho cảm thụ văn học, trong quá trình dạy các tiết Tập đọc, Tập làm văn, Luyện từ và câu, kể chuyện, chính tả, bản thân giáo viên phải là người truyền cảm thụ cho học sinh thông từng tiết học này. Vì vậy thông qua từng tiết học này, tôi luôn tìm tòi phát hiện những câu, đoạn văn hay gắn vào từng dạng bài cảm thụ để dẫn dắt các em từng bước làm quen dẫn đến yêu thích viết cảm thụ văn học. 1.2. Cơ sở thực tiễn - Lớp tôi chủ nhiệm là lớp 5D có 28 học sinh trong đó có 11 nữ và 17 nam. Đa số các em đều được sự quan tâm giúp đỡ của gia đình nhưng do chưa có sự hiểu biết sâu về chuyên môn cũng như phương pháp giảng dạy nên việc hướng dẫn và giúp đỡ học sinh trong quá trình học tập còn hạn chế. Nhất là cảm thụ văn học thì các bậc phụ huynh đành nhờ thầy, cô. Đây là một khó khăn, thử thách đối với giáo viên. - Vốn sống của các em còn hạn chế, các em chưa thật sự rung động khi tiếp xúc với một văn bản nghệ thuật. Các em còn phụ thuộc theo sự hướng dẫn của thầy cô, tự viết bài theo cảm hứng. Bài viết của các em thường rất ngắn, nhiều bài viết còn mang tính trả lời câu hỏi. Thông qua phân môn Tập đọc các em đã phần nào nắm được nội dung của đoạn thơ, đoạn văn, một số biện pháp nghệ thuật mà tác giả sử dụng như nhân hóa, so sánh, điệp từ, điệp ngữ. Nhưng sự cảm nhận của các em về nội dung đoạn văn, đoạn thơ hết sức đơn giản và sơ sài. Các em chưa biết sử dụng biện pháp nghệ thuật để bật ra nội dung hay từ nội dung bật ra biện pháp nghệ thuật. 2. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ DẠY CẢM THỤ HIỆN NAY Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC. 2.1. Về phía các nhà trường Được sự chỉ đạo sát sao của Sở giáo dục, Phòng giáo dục, được sự giúp đỡ nhiệt tình có hiệu quả của các cấp các ngành; các bậc phụ huynh nhà trường luôn
- luôn tạo điều kiện tốt nhất để các giáo viên hoàn thành xuất sắcnhiệm vụ năm học. Nhà trường có mở các chuyên đề nâng cao chất lượng dạy và học ở môn Tiếng Việt và môn Toán, chỉ đạo cho giáo viên soạn giảng theo phân hóa đối tượng từng năng lực học tập của các em nhưng chưa có chuyên đề bồi dưỡng cho giáo viên dạy cảm thụ văn học cho học sinh. Giáo viên được nhà trường “khoán” giảng dạy theo kinh nghiệm của bản thân. 2.2. Về phía giáo viên: Trường tôi phần lớn là những cán bộ giáo viên trẻ, nhiệt tình, hăng hái, trình độ đều đạt chuẩn và trên chuẩn. Tất cả các đồng chí cán bộ giáo viên trong trường đều biểu lộ tình đoàn kết thân ái giúp đỡ lẫn nhau. Các đồng chí xuất thân từ nhiều nguồn đào tạo khác nhau, tuổi đời, tuổi nghề cũng khác. Cả tập thể ấy mang theo phong tục tập quán của nhiều địa phương khác nhau, cá tính, năng lực, sở trường khác nhau nhưng trước yêu cầu của cách mạng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, các đồng chí đã tập hợp thành một khối xây dựng một tổ ấm đoàn kết nhất trí, khắc phục những mặt yếu, phát huy những mặt mạnh cùng nhau gánh vác công việc chung để đẩy mạnh công tác giáo dục của nhà trường. Tuy nhiên thực tiễn dạy học cho thấy một số cán bộ giáo viên, đặc biệt là giáo viên dạy lớp 4 - 5 trong quá trình dạy học và giáo dục vẫn chưa quan tâm sâu sắc đến dạy cảm thụ văn học cho các em học sinh. Giáo viên "ngại" dạy cảm thụ mà khi có đoạn văn, đoạn thơ hay, giáo viên đọc luôn cảm nhận của chính mình cho các em nghe. Mặt khác, giáo viên tiểu học có một đặc thù riêng là phái dạy tất cả các môn học. Nhưng trình độ năng lực về môn Toán và Tiếng Việt không đồng đều, có người lại thiên về Toán. Chính vì vậy khi dạy phần cảm thụ văn học cho học sinh bài dạy trở nên khô khan, không hấp dẫn, không tạo cho các em niềm say mê văn học. Hơn nữa, việc bồi dưỡng học sinh cách viết một đoạn văn, đoạn thơ cảm thụ còn nhiều hạn chế, chất lượng còn thấp. Một phần do thiếu sách hướng dẫn và tài liệu tham khảo. Một phần do nhận thức của giáo viên chưa thấy rõ tầm quan trọng của công việc bồi dưỡng cho học sinh khi học phần cảm thụ văn học. 2.3. Về phía học sinh:
- Ở trường tôi nhìn chung các em học sinh có nhận thức tương đối đồng đều. Hầu hết các em rất ham học, biết nghe lời thầy cô. Đặc biệt là các em được bố mẹ quan tâm, tạo điều kiện để các em tiếp thu kiến thức một cách tốt nhất. Các em đều đọc thông, viết thạo. Khả năng nắm bắt kiến thức nhanh và rất thích khám phá những điều mới lạ. Tuy nhiên xét về môn Tiếng việt các em vẫn chưa có niềm đam mê, đặc biệt đối với cảm thụ văn học các em luôn nghĩ là khó nên ngại làm, ngại tìm hiểu. Mặt khác, do đặc thù làng nghề truyền thống công việc bận rộn nên các em ít được được bố mẹ cho đi du lịch ngắm cảnh, giảng giải vẻ đẹp của thiên nhiên, vạn vật xung quanh ta hay tham gia các hoạt động ngoại khóa như tham quan, píc ních... Đây là một thiệt thòi lớn đối với các em. Chính vì vậy, thật là khó khăn khi giúp các em viết một bài cảm thụ thành công. 3 . CÁC BIỆN PHÁP BỒI DƯỠNG CẢM THỤ VĂN HỌC 3.1. Biện pháp 1 : "Truyền lửa" cho các em tình yêu thơ, văn bằng đọc hay, đọc diễn cảm: Học sinh Tiểu học thực ra các em rất thích nghe thầy cô đọc những bài văn, bài thơ hay. Thầy cô đọc hay, đọc diễn cảm để cuốn hút các em lắng nghe đó chính là thầy cô đã "gieo mầm" cảm thụ cho các em, nhen nhóm trong các em ngọn lửa văn học, tình yêu văn học. * Khó khăn khi thực hiện: Với học sinh lớp 5, yêu cầu cuối cấp các em phải đọc thạo, trôi chảy tiến tới diễn cảm một bài văn, bài thơ... Các em có đọc lưu loát, diễn cảm bài văn bài thơ thì các em mới thực sự xúc động với những gì đẹp đẽ được tác giả diễn tả qua bài văn, bài thơ đó. Nhưng trong quá trình dạy học, tôi nhận thấy nhiều em đọc chưa trôi chảy, ngại đọc. Chính vì thế các em ngại tìm hiểu bài. Nhất là đối với tiết tập đọc một tiết chủ đạo cho phần cảm thụ văn học. * Cách giải quyết vấn đề: Để giải quyết thực trạng nêu trên, trong mỗi tiết tập đọc, tập làm văn, kể chuyện ... bản thân tôi phải đọc thật diễn cảm, thật hay cuốn hút các em qua các bài văn, bài thơ hay đoạn văn, đoạn thơ các em sẽ được học
- trong chương trình. Tôi tìm hiểu kĩ cách đọc sao cho đúng văn bản, thể loại, phù hợp đối tượng học sinh tiểu học. Vì khi nghe cô đọc hay các em rất thích, thích đọc được như cô. Tôi dạy các em cách đọc thơ, đọc văn sao cho đúng, cho hay. Tổ chức cho các em thi đọc thuộc lòng thơ văn hay, sáng tạo. Động viên, khích lệ các em đọc có sáng tạo. Có khi tôi còn trao thưởng cho những em đọc thực sự xuất sắc. Ngoài ra, tôi giúp các em trở thành "người bạn thân" với thơ, văn bằng cách cung cấp cho các em những bài thơ, bài văn hay gần gũi với các em. Khi các em có hứng thú tiếp xúc với thơ văn, tôi yêu cầu các em tự tìm những bài thơ, bài văn hay đọc cho các bạn nghe, cô nghe. Chính sự trau dồi hứng thú tiếp xúc với thơ văn là động lực thôi thúc các em đến với văn học một cách tự giác, say mê - yếu tố quan trọng của cảm thụ văn học. 3.2.Biện pháp 2: Tích lũy vốn hiểu biết về thực tế cuộc sống và văn học . Khi được tiếp cận với các bài văn, bài thơ có giá trị nghệ thuật hay, các em cũng đã cảm nhận được phần nào cái hay, cái đẹp trong tác phẩm đó nhưng các em vẫn đặt câu hỏi: "Vì sao tác giả lại viết hay như vậy hả cô?". Thật thú vị khi nghe các em hỏi câu hỏi này. Nếu mới nghe các em hỏi, ta nghĩ câu hỏi thật ngây ngô. Nhưng để trả lời cho các em câu hỏi này, cũng thật khó giải thích. Vì muốn giải thích cho học trò Tiểu học thì phải giải thích một cách cụ thể, tường minh thì có dẫn chứng cụ thể. Để giải quyết vấn đề này, tôi đã dành thời gian dẫn các em đi thăm cánh đồng, vườn cây, những khu rừng, mái đền, những nhà có mô hình đẹp, thăm cuộc sống của bà con nông dân trên quê hương mình... Dừng chân ở cánh đồng, các em thấy được màu xanh của lúa đương thì con gái, thấy cánh cò trắng dập dờn như nhà thơ Nguyễn Đình Thi có viết: Việt Nam đất nước ta ơi! Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn. Cánh cò bay lả dập dờn, Mây mờ che đỉnh Trường Sơn sớm chiều.
- Hay khu đền"Rừng già" lấp ló trong bóng cây cổ thụ từ ngàn đời... Hoặc, vẻ đẹp của núi Ba Vì hùng vĩ, nên thơ vào những buổi sớm tinh sương, rồi vẻ đẹp của dòng sông trôi lửng lờ hay cánh diều no gió của đám trẻ mục đồng,... Tất cả hiện lên một cách tự nhiên, gần gũi, thân thuộc. Các em cảm nhận được những điều đó bằng tất cả các giác quan. Tôi hướng dẫn các em cách quan sát, ghi chép, kích thích sự sáng tạo của các em, không gò bó, khuôn mẫu. Sau các cuộc đi thăm này, tôi thường chia sẻ cùng các em: Cảnh vật các em vừa đến thăm có gì đẹp? Em thấy ở đó có gì thú vị? Mơ ước của em khi đi thăm cảnh vật này?... Chính từ những câu hỏi đơn giản này, tôi đã kích thích được sự quan sát, nhìn nhận của học sinh về cảnh sắc thiên nhiên, hoạt động của con người từ thực tế... mà các nhà thơ, nhà văn thể hiện trong các tác phẩm văn, thơ của mình. Nhờ vậy mà tôi giúp các em đã tự giải thích được câu hỏi : "Vì sao tác giả viết hay như vậy?". Đó chính là nhờ cái tài quan sát cảnh vật bằng mọi giác quan, tích lũy vốn hiểu biết về thực tế mà các em cũng làm được. Đây là điều kiện giúp các em cảm nhận được vẻ đẹp của thơ văn một cách tinh tế và sâu sắc. Các em thể hiện vào bài làm một cách chân thực, xúc động hơn. Không chỉ có vẻ đẹp thiên nhiên mà qua những áng văn bất hủ tôi còn hướng các em cảm nhận về vẻ đẹp tâm hồn người. Các em chắc chắn không thể quên hình ảnh đầy xúc động của chú Mo – ri –xơn , một công dân Mỹ đã bế con gái của mình mới 18 tháng tuổi tới trụ sở Bộ Quốc phòng Mỹ tự thiêu để phản đối chiến tranh xâm lược của chính quyền Mỹ ở Việt Nam trong bài thơ Ê – mi – li con...của nhà thơ Tố Hữu. Hay hình ảnh cô bé Gioan biết yêu thương đền đáp công ơn nuôi dưỡng của chị, anh bán hàng có tên Pi – e đã sẵn sàng tặng Gioan một chuỗi ngọc vì cảm động trước tấm lòng đối với chị của Gioan ( Chuỗi ngọc lam của tác giả Phun – tơn O – xlơ),....Và còn rất nhiều hình ảnh đẹp nữa mà các em đã được cảm nhận. Có đôi lúc tôi và các em học sinh cũng đã rơi nước mắt cùng nhân vật. Tôi nghĩ đó là sự thành công nhất định của đề tài. 3.3. Biện pháp 3 : Cảm thụ văn học qua việc khai thác các biện pháp nghệ thuật:
- Bên cạnh sự quan sát tinh tế, các nhà văn, nhà thơ còn khéo léo sử dụng các biện pháp nghệ thuật một cách hợp tình, hợp lí làm cho bài văn, bài thơ thêm hay, thêm "đắt" hơn. Ở các lớp dưới, học sinh được học các biện pháp nghệ thuật như: so sánh, nhân hóa. Lên lớp 5, các em được học từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa, từ nhiều nghĩa đại từ, phép liên kết, phép lặp.... Đây cũng là nghệ thuật. Vì học sinh thường nhầm chỉ có so sánh, nhân hóa mới là biện pháp nghệ thuật. Trong quá trình học, giáo viên phải giảng giải, dẫn chứng để học sinh thấy rõ tác dụng của các biện pháp nghệ thuật trong văn học. Để cảm thụ tốt các tác phẩm văn học thông qua việc khai thác các biện pháp nghệ thuật trong các bài văn, bài thơ, học sinh cần thực hiện tốt các yêu cầu sau: - Hiểu được thế nào là biện pháp so sánh, nhân hóa, điệp từ, điệp ngữ, đảo ngữ, đại từ, phép liên kết, phép lặp....thông qua học phân môn Luyện từ và câu. - Xác định đúng những biện pháp nghệ thuật trong bài thơ, bài văn. - Xác định đúng những từ, cụm từ, hình ảnh thể hiện biện pháp nghệ thuật. - Cảm nhận được giá trị nghệ thuật làm tăng giá trị nội dung ý nghĩa của bài văn, bài thơ. Sau đây, tôi đưa ra một số thủ thuật để giúp các em nhận biết được tác dụng của việc sử dụng các biện pháp nghệ thuật trong bài văn, bài thơ: 3.3.1. Dùng nghệ thuật so sánh + Dấu hiệu chung để so sánh hai sự vật với nhau: Là cách đối chiếu hai hay nhiều sự vật , sự việc có cùng một nét giống nhau nào đó về màu sắc, hình dáng... + Từ dùng chỉ sự so sánh: như, tựa, tựa hồ, giống, giống như, là, như là, dấu gạch ngang, dấu hai chấm... + Tác dụng của biện pháp nghệ thuật sánh: nhằm diễn tả một cách đầy đủ các hình ảnh, đặc điểm của sự vật, hiện tượng hay hình ảnh so sánh góp phần diễn tả nội dung thêm sinh động, gợi cảm... Giúp ta hình dung sự vật được miêu tả thêm cụ
- thể, đẹp đẽ và sinh động, giúp ta cảm nhận được vẻ đẹp tinh khiết, sức sống mãnh liệt của sự vật Ví dụ cụ thể: Trong mỗi khổ thơ, đoạn văn dưới đây, tác giả đã so sánh hai sự vật nào với nhau? Dựa vào dấu hiệu nào để so sánh? So sánh bằng từ gì? Nhận xét tác dụng của biện pháp so sánh đó? a, Đã có ai lắng nghe Tiếng mưa trong rừng cọ Như tiếng thác dội về Như ào ào trận gió ( Bài thơ Mặt trời xanh của tôi TV3 - tập 2 của nhà thơ Nguyễn Viết Bình) b, Thân dừa bạc phếch tháng năm, Quả dừa - đàn lợn con nằm trên cao Đêm hè hoa nở cùng sao, Tàu dừa - chiếc lược trải vào mây xanh Trần Đăng Khoa - TV2 - tập hai c, Xa xa mấy chiếc thuyền nữa cũng đang chạy ra khơi, cánh buồm lòng vút cong thon thả. Mảnh buồm nhỏ xíu phía sau nom như một con chim đang đỗ sau lái, cổ rướn cao sắp cất tiếng hót. Gợi ý Khổ thơ, Hai sự vật được Dấu hiệu Từ dùng Tác dụng của biện so sánh với nhau chung để so chỉ sự so pháp so sánh Đoạn văn sánh sánh a tiếng mưa- tiếng đều có âm như Giúp ta hình dung thác, trận gió thanh giống được tiếng mưa trong rừng cọ to và mạnh
- nhau như âm thanh của tiếng thác và tiếng gió. b, quả dừa - đàn Đều có đặc dấu gạch Giúp ta cảm nhận lợn; tàu dừa - điểm, hình ngang được: vẻ kì lạ, ngộ chiếc lược dáng giống nghĩnh của những quả nhau. dừa; nét đẹp và lạ của tàu lá dừa trên cao. c, mảnh buồm - hình dáng như Góp phần diễn tả sinh con chim giống nhau động, gợi tả vẻ đẹp kì lạ, hấp đẫn của mảnh buồm Khi so sánh cần lựa chọn những sự vật, hình ảnh quen thuộc gần gũi, sẽ có tác dụng gợi hình ảnh để cho câu thơ, câu văn sinh động hơn. 3.3.2. Dùng nghệ thuật nhân hóa + Dấu hiệu chung để nhận biết sự vật được nhân hóa : lấy những từ ngữ biểu thị thuộc tính hay hoạt động của con người chuyển sang đối tượng không phải con người( vật vô tri, vô giác) cụ thể dùng từ chỉ đặc điểm, trạng thái, hoạt động... của người gắn với sự vật hay gọi sự vật bằng chị, anh, cô, bác... + Tác dụng của biện pháp nghệ nhân hóa: làm cho sự vật được nhân hóa có hành động , suy nghĩ, cảm xúc , nói năng, như người .Giúp ta cảm nhận được sự gần gũi, thân thiết, đáng yêu, sinh động của sự vật. Qua các sự vật được nhân hóa đó giúp con con người thêm yêu quí cảnh sắc thiên nhiên, yêu cuộc sống lao động và sống có ý nghĩa hơn. Ví dụ cụ thể: Trong bài tiếng hát mùa gặt nhà thơ Nguyễn Duy có viết: Đồng chiêm phả nắng lên không,
- Cánh cò dẫn lúa qua thung lúa vàng. Gió nâng tiếng hát chói chang, Long lanh lưỡi hái liếm ngang chân trời. Tác giả sử dụng biện pháp nghệ thuật gì nổi bật ở các câu thơ trên? Nhờ biện pháp nghệ thuật nổi bật đó, em cảm nhận được nội dung, ý nghĩa gì đẹp đẽ? Gợi ý - BiÖn ph¸p nghÖ thuËt næi bËt ë hai c©u th¬ lµ biÖn ph¸p nh©n hãa (thÓ hiện râ nh÷ng tõ ngữ chỉ hoạt động cña ng-êi: phả, dẫn, n©ng, liÕm). - Néi dung, ý nghÜa ®Ñp ®Ï: c¶nh mïa gÆt ë n«ng th«n ViÖt Nam thật sinh động, nên thơ Đồng chiêm phả nắng lên không, Cánh cò dẫn lúa qua thung lúa vàng. Bên cạnh vẻ đẹp nên thơ là sự vui t-¬i, n¸o nøc (Giã n©ng tiÕng h¸t chãi chang); c¸nh ®ång lóa tèt mªnh m«ng høa hÑn mét cuéc sèng Êm no (Long lanh l-ìi h¸i liÕm ngang ch©n trêi). Nh÷ng c¶nh ®ã gîi cho ta thÊy kh«ng khÝ ®Çm Êm, thanh b×nh n¬i th«n quª khi mïa gÆt ®Õn. 3.3.3. Dùng từ, đặt câu sinh động: * Dùng từ láy: + Cách nhận biết: đó là những từ láy âm đầu, láy vần, láy cả âm lẫn vần. + Tác dụng: Trong đoạn văn đoạn thơ tác giả dùng từ láy có tác dụng gợi tả vẻ đẹp của sự vật, hiện tượng... ở các sắc độ, âm thanh, mùi vị... khác nhau giảm nhẹ hay nhấn mạnh sắc độ, âm thanh, mùi vị... làm cho cảnh sắc thiên nhiên thêm phần hấp dẫn và đầy quyến rũ. Ví dụ cụ thể: Đoạn thơ dưới đây có những từ nào là từ láy? Hãy nêu rõ tác dụng gợi tả của mỗi từ láy đó? Quýt nhà ai chín đỏ cây
- Hỡi em đi học hây hây má tròn Trường em mấy tổ trong thôn Ríu ra ríu rít chim non đầu mùa. Gợi ý - Các từ láy có trong đoạn thơ: hây hây, ríu ra ríu rít - Tác dụng gợi tả: + hây hây: màu da đỏ phơn phớt trên má, tươi tắn và đầy sức sống. + ríu ra ríu rít: nhiều tiếng chim kêu hay tiếng nói cười trong và cao, vang lên liên tiếp và vui vẻ. * Dùng từ gợi tả, gợi cảm : + Cách nhận biết: Đó là những từ chỉ đặc điểm, tính chất, màu sắc, ... của sự vật + Tác dụng: Tác giả dùng từ gợi tả, gợi cảm trong đoạn văn có tác dụng miêu tả cụ thể, sinh động gợi cảm xúc mới mẻ về sự vật xung quanh ta. Ví dụ cụ thể: Đoạn văn dưới đây, tác giả dùng những từ ngữ nào để gợi tả hình dáng con chim gáy? Cách miêu tả như vậy đã giúp em hình dung được con chim gáy như thế nào? Con chim gáy hiền lành, béo nục. Đôi mắt nâu trầm ngâm ngơ ngác nhìn xa, cái bụng mịn mượt, cổ yếm quàng chiếc tạp dề công nhân đầy hạt cườm lấp lánh biêng biếc. Chàng chim gáy nào giọng càng trong, càng cao thì quanh cổ càng được đeo nhiều vòng cườm đẹp. Tô Hoài Gợi ý - Những từ ngữ gợi tả hình dáng con chim gáy: béo nục, đôi mắt trầm ngâm ngơ
- ngác nhìn xa, cái bụng mịn mượt, cổ yếm quàng chiếc tạp dề công nhân đầy hạt cườm lấp lánh biêng biếc. - Cách miêu tả như vậy đã giúp em hình dung được con chim gáy rất cụ thể sinh động; nó có vẻ đẹp hiền lành và đáng yêu * Dùng từ đồng nghĩa: (Từ đồng nghĩa - lớp 5) + Cách nhận biết: đó là những từ có nghĩa giống nhau hoặc gần giống nhau. Cùng một nhóm từ loại: danh từ, động từ, tính từ chẳng hạn như chỉ bố ta còn có thể gọi là cha, ba, thầy...; hay xanh từ đồng nghĩa với nó là xanh thắm, xanh biếc, xanh lơ, xanh mườn mượt... + Tác dụng: Trong đoạn văn đoạn thơ tác giả dùng từ đồng nghĩa có tác dụng : - Đồng nghĩa hoàn toàn: tránh lặp từ... (thể hiện rất cụ thể trong tiết LTVC lớp 5) - Đồng nghĩa không hoàn toàn nhưng cùng trường nghĩa như các sắc độ xanh, đỏ, vàng... khác nhau: có tác dụng nhận xét về cảnh vật thiên nhiên đa dạng, phong phú, đẹp đẽ, giàu sức sống... Ví dụ cụ thể: Trong cuèn Håi kÝ B¸c Hå, hai nhµ v¨n Hoµi Thanh vµ Thanh TÞnh ®· t¶ phong c¶nh Quª h-¬ng B¸c nh- sau: Tr-íc m¾t chóng t«i, gi÷a hai d·y nói lµ nhµ B¸c víi c¸nh ®ång quª B¸c. Nh×n xuèng c¸nh ®ång cã ®ñ c¸c mµu xanh, xanh pha vµng cña ruéng mÝa, xanh rÊt m-ît cña lóa chiªm ®-¬ng thêi con g¸i, xanh ®Ëm cña nh÷ng rÆng tre; ®©y ®ã mét vµi c©y phi lao xanh biÕc vµ nhiÒu mµu xanh kh¸c n÷a. §äc ®o¹n v¨n trªn, em cã nhËn xÐt g× vÒ c¸ch dïng nh÷ng tõ ng÷ chØ mµu xanh ? C¸ch dïng tõ ng÷ nh- vËy ®· gãp phÇn gîi t¶ ®iÒu g× vÒ c¶nh vËt trªn quª B¸c? Gợi ý
- T¸c gi¶ dïng từ đồng nghĩa chØ mµu xanh thËt lµ ®a d¹ng , phong phó hîp víi tõng c¶nh vËt, víi tõng giai ®o¹n ph¸t triÓn cña c¶nh. C¸ch dïng tõ cña t¸c gi¶ ®· gîi nªn mét bøc tranh sinh ®éng, trµn trÒ søc sèng cña c¶nh vËt ë quª B¸c. * Dùng từ trái nghĩa: (thể hiện rất cụ thể trong tiết LTVC lớp 5) + Cách nhận biết: là những từ có nghĩa trái ngược nhau. + Tác dụng: Từ trái nghĩa đặt cạnh nhau có tác dụng làm nổi bật sự vật, sự việc cần miêu tả. * Dùng câu văn ngắn, xen câu văn dài: + Cách nhận biết: cuối câu văn kết thúc bằng dấu chấm câu. + Tác dụng: Trong đoạn văn, tác giả sử dụng câu văn ngắn và các câu văn dài có tác dụng diễn tả, khẳng định tính chất của sự vật theo mức độ tăng hay giảm dần. Ví dụ cụ thể: Đọc đoạn văn sau cña nhµ v¨n Ma V¨n Kh¸ng trÝch trong bµi Mùa th¶o qu¶: Gió tây lướt thướt bay qua rừng, quyến hương thảo quả đi, rải theo triền núi, đưa hương thảo quả ngọt lựng, thơm nồng vào những thôn xóm Chin San. Gió thơm. Cây cỏ thơm. Đất trời thơm. Người đi từ rừng thảo quả về, hương thơm đậm ấp ủ trong từng nếp áo, nếp khăn. Hãy nêu nhận xét về cách dùng từ, đặt câu nhằm nhấn mạnh hương thơm của thảo quả chín trong đoạn văn trên. Gợi ý T¸c gi¶ lÆp l¹i tõ th¬m ba lÇn ®Ó nhÊn m¹nh h-¬ng th¬m cña th¶o qu¶ chÝn. C©u ®Çu h¬i dµi nh-ng ng¾t thµnh nhiÒu côm tõ diÔn t¶ h-¬ng th¬m cña th¶o
- qu¶ bay xa trong kh«ng gian. Ba c©u tiÕp theo kh¼ng ®Þnh h-¬ng th¬m cña th¶o qu¶ chÝn ®· lan to¶, thÊm ®-îm c¶ ®Êt trêi lµm ng©y ngÊt lßng ng-êi. 3.3.4. Dùng điệp ngữ + Cách nhận biết: Điệp ngữ là cách diễn đạt một từ, một ngữ được nhắc đi , nhắc lại nhiều lần. + Tác dụng: nhằm mục đích nhấn mạnh ý, khẳng định, gây ấn tượng mạnh hoặc gợi ra cảm xúc trong lòng người đọc, người nghe tạo âm điệu nhịp nhàng của câu thơ gợi cảm xúc cho người đọc. Ví dụ cụ thể: Hãy chỉ ra những điệp ngữ trong đoạn thơ sau và nêu rõ tác dụng của nó đối với người đọc. Trời xanh đây là của chúng ta Núi rừng đây là của chúng ta Những cánh đồng thơm mát Những ngả đường bát ngát Những dòng sông đỏ nặng phù sa. Nguyễn Đình thi Gợi ý - Điệp ngữ đây: nhấn mạnh vị trí cụ thể thuộc chủ quyền của Tổ quốc - Điệp ngữ của chúng ta: khẳng định quyền sở hữu, làm chủ đất nước, bộc lộ niềm tự hào, kiêu hãnh. - Điệp ngữ những: có tính chất liệt kê, nhấn mạnh số lượng nhiều kèm theo một loạt hình ảnh như cánh đồng, dòng sông, ngả đường gợi vẻ đẹp giàu có của đất nước nhằm bộc lộ cảm xúc yêu thương và tự hào. 3.3. 5. Dùng đảo ngữ
- + Cách nhận biết: Nghệ thuật đảo ngữ là hình thức đảo ngữ trật tự thông thường của cụm chủ - vị trong câu (đảo vị ngữ lên đầu câu). + Tác dụng: nhằm mục đích nhấn mạnh hoạt động, tính chất, trạng thái của đối tượng trình bày hay nhấn mạnh các ý nêu trong bộ phận vị ngữ, làm cho các tính từ được chuyển loại. Gợi cho người đọc cảm nhận được vẻ đẹp rực rỡ, độc đáo của cảnh vật thiên nhiên. Ví dụ cụ thể: Nêu tác dụng của biện pháp đảo ngữ trong đoạn thơ sau: Quª em Bªn nµy lµ nói uy nghiªm Bªn kia lµ c¸nh ®ång liÒn ch©n m©y Xãm lµng xanh m¸t bãng c©y S«ng xa tr¾ng c¸nh buåm bay l-ng trêi... TrÇn §¨ng Khoa Gợi ý Cách diễn đạt đảo ngữ xanh mát bóng cây, trắng cánh buồm làm cho hai tính từ được chuyển loại có tác dụng nhấn mạnh ý miêu tả và gợi cảm xúc. 3.3.6: Phát hiện những hình ảnh, chi tiết có tác dụng gợi tả trong các đoạn thơ, đoạn văn. + Cách phát hiện: Những hình ảnh, chi tiết có tác dụng gợi tả trong các đoạn thơ, đoạn văn thường là những hình ảnh, chi tiết có những từ gợi tả đặc điểm, cảm xúc, của sự vật hay những hình ảnh, chi tiết đó tác giả có sử dụng các biện pháp nghệ thuật như so sánh, nhân hóa, đảo ngữ... làm toát lên giá trị nổi bật của sự vật miêu tả trong đoạn văn, đoạn thơ. Ví dụ cụ thể Nßi tre ®©u chÞu mäc cong Ch-a lªn ®· nhän nh- ch«ng l¹ th-êng.
- L-ng trÇn ph¬i n¾ng ph¬i s-¬ng Cã manh ¸o céc tre nh-êng cho con (Tre ViÖt Nam-NguyÔn Duy) Em thÊy ®o¹n th¬ trªn cã nh÷ng h×nh ¶nh nµo ®Ñp? H·y nªu ý nghÜa ®Ñp ®Ï vµ s©u s¾c cña nh÷ng h×nh ¶nh ®ã. Gîi ý §o¹n th¬ trªn cña nhµ th¬ NguyÔn Duy cã nh÷ng h×nh ¶nh ®Ñp sau ®©y: - H×nh ¶nh (m¨ng tre) nhän nh ch«ng gîi cho ta thÊy sù kiªu h·nh, hiên ngang, bÊt khuÊt cña loµi tre (hay còng chÝnh lµ cña d©n téc ViÖt Nam!). - H×nh ¶nh (c©y tre) lng trÇn ph¬i n¾ng ph¬i s¬ng cã ý nãi lªn sù d·i dÇu, chÞu ®ùng mäi khã kh¨n, thö th¸ch trong cuéc sèng - H×nh ¶nh cã manh ¸o céc tre nhêng cho con gîi cho ta nghÜ ®Õn sù che chë, hi sinh tÊt c¶ mµ ng-êi mÑ dµnh cho con; thÓ hiÖn lßng nh©n ¸i vµ t×nh mÉu tö thËt c¶m ®éng 3.4. Biện pháp 4 : Cảm thụ văn học thông qua việc tìm hiểu nội dung, ý nghĩa. Mỗi bài văn, bài thơ hay đoạn văn, đoạn thơ đều mang một nội dung ý nghĩa nhất định. Việc khai thác nội dung ý nghĩa giúp học sinh cảm nhận được điều mà tác giả muốn đề cập đến cũng như giá trị nghệ thuật mà tác phẩm văn học mang lại. Ví dụ : Trong bài thơ Dừa ơi (SGK Tiếng việt 5 tập 2), Nhà thơ Lê Anh Xuân có viết : “Dừa vẫn đứng hiên ngang cao vút Lá vẫn xanh rất mực dịu dàng Rễ dừa bám sâu vào lòng đất Như dân làng bám chặt quê hương.”
- Em hãy cho biết hình ảnh cây dừa trong đoạn thơ trên nói lên những điều gì đẹp đẽ của người dân Miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ. Gợi ý: - Học sinh cần xác định những từ ngữ miêu tả cây dừa : dáng đứng : hiên ngang; lá : rất mực dịu dàng; rễ : bám sâu vào lòng đất - Nêu được hình ảnh so sánh trong đoạn thơ : Rễ dừa bám sâu vào lòng đất (như) dân làng bám chặt quê hương . - Nêu được những điều đẹp đẽ về người dân miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ (qua hình ảnh cây dừa) : Dừa vẫn đứng hiên ngang cao vút ca ngợi phẩm chất kiên cường, anh dũng, hiên ngang, tự hào trong chiến đấu. Lá vẫn xanh rất mực dịu dàng : Ca ngợi phẩm chất trong sáng thủy chung, đẹp đẽ, dịu dàng trong cuộc sống. Rễ vẫn bám sâu vào lòng đất. Như dân làng bám chặt quê hương ý nói phẩm chất kiên cường bám trụ giữ đất, giữ làng, gắn bó chặt chẽ với quê hương miền Nam. Cây dừa là hình tượng của con người miền Nam. 3.5. Biện pháp 5. Thông qua hệ thống câu hỏi gợi ý viết một đoạn cảm thụ Để giúp học sinh khai thác, tìm hiểu về nội dung, nghệ thuật... đoạn cảm thụ, hệ thống câu hỏi câu hỏi của giáo viên đưa ra hết sức quan trọng và có vai trò to lớn trong việc dẫn dắt học sinh viết đoạn cảm thụ đúng trọng tâm bài đưa ra. Hệ thống câu hỏi phải đảm bảo các yêu cầu sau: + Ngắn gọn, rõ nội dung, trong sáng, dễ hiểu gần gũi với học sinh. + Các câu hỏi lô gích, gây ấn tượng, thu hút học sinh khám phá những điều mới mẻ trong văn thơ. + Phát huy tính sáng tạo của học sinh.
- + Câu hỏi có tính thực tế, giáo dục kĩ năng sống cho học sinh và học sinh biết liên hệ mở rộng rút ra bài học cho bản thân. + Động viên, khích lệ các em trả lời theo ý hiểu của mình rõ ràng, không khuôn mẫu, gò bó. Ví dụ cụ thể: Trong bài TiÕng h¸t mïa gÆt, nhµ th¬ NguyÔn Duy cã viÕt: Đồng chiêm phả nắng lên không Cánh cò dẫn lúa qua thung lúa vàng. Gió nâng tiếng hát chói chang Long lanh lưỡi hái liếm ngang chân trời. Tác giả sử dụng biện pháp nghệ thuật gì nổi bật ở các câu thơ trên? Nhờ biện pháp nghệ thuật nổi bật đó, em cảm nhận được nội dung, ý nghĩa gì đẹp đẽ. Gợi ý: Hệ thống câu hỏi - Bài thơ: Tiếng hát mùa gặt của tác giả nào? Các em đang tìm hiểu các câu thơ nào trong bài thơ đó? - Đoạn thơ tác giả miêu tả cảnh ở đâu? Cảnh ở đó đẹp như thế nào? - Cảnh sắc tươi đẹp đó được tác giả khéo léo sử dụng biện pháp nghệ thuật gì nổi bật? Vì sao em biết? - Nhờ biện pháp nghệ thuật nổi bật đó, em cảm nhận cảnh mùa gặt ở thôn quê ra sao? - Qua đoạn thơ, em thấy người nông dân Việt Nam họ có những phẩm chất tốt đẹp nào? - Các em vừa được tận hưởng sự vui tươi, náo nức, phấn khởi của bà con nông dân khi mùa gặt về, vậy các em hãy chia sẻ cùng nhau cảnh mình đã chứng kiến ở thôn quê khi mùa gặt đến và bày tỏ tình cảm của mình về người nông dân cho các bạn nghe. (Người nông dân thật vất vả, khó nhọc nhưng họ luôn lạc quan, yêu đời, kiên cường bám trụ, một nắng hai sương. Nhờ vậy, họ đã làm ra bao hạt vàng nuôi đời!)

