Kế hoạch bài dạy các môn Khối 3 - Tuần 32 - Năm học 2020-2021

docx 24 trang hathanh 01/10/2026 170
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Kế hoạch bài dạy các môn Khối 3 - Tuần 32 - Năm học 2020-2021", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxke_hoach_bai_day_cac_mon_khoi_3_tuan_32_nam_hoc_2020_2021.docx

Nội dung tài liệu: Kế hoạch bài dạy các môn Khối 3 - Tuần 32 - Năm học 2020-2021

  1. Thứ 5 ngày 6 tháng 5 năm 2021 Toán LUYỆN TẬP I. MỤC TIÊU: 1. Kiến thức - Kĩ năng - Biết giải bài toán liên quan đến rút về đơn vị. - Biết lập bảng thống kê (theo mẫu). - Làm bài tập 1, 2, 3, 4, trang 82. 2. Năng lực- Phẩm chất: - Phát triển năng lực tự chủ, sáng tạo lập luận toán học II. HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC: 1. Khởi động 2. Khám phá - hình thành kiến thức mới HĐ 1: Giới thiệu bài: HĐ 2: Hướng dẫn HS làm bài tập: Bài 1: HS đọc đề toán. - Bài toán cho biết gì? Bài toán hỏi gì? GV ghi tóm tắt trên bảng. - HS làm bài tập vào vở, một em lên bảng phụ làm bài. GV theo dõi, giúp đỡ thêm. Bước 1: Môi km đi trong thời gian là? (12: 3 = 4 (phút). Bước 2: 28 phút đi được số km là: (28 : 4 = 7 (km). Bài 2: HS đọc đề toán, GV ghi tóm tắt trên bảng. - Bài toán cho biết gì? Bài toán hỏi gì? - HS làm bài tập vào vở, một em lên bảng phụ làm bài. GV theo dõi, giúp đỡ thêm. Bước 1: Mỗi túi có số kg gạo là: ( 21 : 7 = 3(kg ) Bước 2: 15 kg đụng trong số túi? ( 15 : 3 = 5 (túi) 3. Thực hành - vận dụng. Bài 3: Tổ chức dưới dạng trò chơi: Nối nhanh mỗi biểu thức với giá trị của biểu thức đó. (GV viết BT vào bảng phụ rồi cho HS thi nói nhanh). Bài 4: - HS thống kê số HS giỏi, HS khá, HS trung bình ở từng lớp, sau đó tính tổng số HS. - GV kẻ sẵn vào bảng phụ, gọi 1 HS lên bảng làm bài. - GV cùng HS cả lớp nhận xét. - Khắc sâu về thống kê số liệu. 4. Hoạt động sáng tạo. - GV hệ thống lại bài
  2. - Nhận xét giờ học. ____________________________ Tập đọc CUỐN SỔ TAY I.MỤC TIÊU: 1. Kiến thức - Kĩ năng - Biết đọc phân biệt lời người dẫn chuyện với lời người các nhân vật. - Nắm được công dụng của sổ tay; biết cách ứng xử đúng: không tự tiện xem số tay của người khác (trả lời được các câu hỏi trong SGK). 2. Năng lực- Phẩm chất: * Giúp HS đọc được 1, 2 câu của bài tập đọc. II. ĐỒ DÙNG: - SGK, bảng phụ. III. HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC: 1. Khởi động - 3 HS đọc thuộc bài: Mè hoa lượn sóng.. 2. Khám phá- Hình thành kiến thức mới HĐ 1. Giới thiệu bài: HĐ 2. Luyện đọc. a. GV Đọc mẫu b. Hướng dẫn đọc từng câu và phát âm từ khó. HS đọc nối tiếp câu. c. Đọc từng đoạn và giải nghĩa từ: gọi 4 HS tiếp nối nhau đọc 4 đoạn. d. Luyện đọc nhóm. 3. Thực hành - Vận dụng HĐ 3. Hướng dẫn HS tìm hiểu bài: H: Bạn Thanh dùng sổ tay để làm gì? (Ghi nội dung cuộc họp, các việc cần làm, những chuyện lí thú) H: Hãy nói vài điều lý thú ghi trong sổ tay bạn Thanh? (Có những điều rất lí thú như tên nước nhỏ nhất, nước lớn nhất...) - 4HS tiếp nối nhau nêu đặc điểm 4 nước được nhắc đến trong bài: Va- ti- căng là nước nhỏ nhất, Nga là nước rộng nhất thế giới, Trung Quốc là nước đông dân nhất thế giới. H: Em có sổ tay dùng không, số tay đã giúp gì cho em? HĐ 4. Luyện đọc lại. - GV chọn đọc mẫu bài lần 2. - Gọi 4 HS đọc lại bài theo vai: người dẫn chuyện, Lân, Thanh, Tùng - 3 nhóm thi đọc bài theo vai. - Nhận xét tuyên dương HS đọc hay.
  3. 4. Hoạt động sáng tạo. - Nhắc lại nội dung bài học. - Nhận xét giờ học. - Về nhà đọc thuộc lòng bài cuốn sổ tay. - Chuẩn bị bài học sau. ______________________________________ Chính tả NGHE- VIẾT: HẠT MƯA I.MỤC TIÊU 1.Kiến thức - Kĩ năng Nghe – viết đúng bài CT; trình bày đúng các khổ thơ, dòng thơ 5 chữ. Làm đúng BT(2) a/b hoặc bài tập CT phương ngữ do GV soạn. 2.Năng lực - Phẩm chất Rèn tính cẩn thận Biết trình bày đoạn văn xuôi đúng, đẹp II.ĐỒ DÙNG DẠY HỌC Bảng phụ III. HOẠT ĐỘNG DẠY VÀ HỌC 1. Khởi động: 1 HS đọc cho 2 HS viết trên bảng lớp: Cái lọ lục bình lóng lánh nước men nâu. 2. Khám phá - Hình thành kiến thức mới: HĐ1: Hướng dấn học sinh nghe viết HĐ2: Hướng dẫn HS viết chính tả : - GV đọc bài thơ. Hỏi: Những câu thơ nào nói lên tác dụng của hạt mưa? ( Hạt mưa ủ trong vườn, Thành mỡ màu của đất / Hạt mưa trong mặt nước, Làm gương cho trăng soi ). Những câu thơ nào nói lên tính cách tinh nghịch của hạt mưa ? ( Hạt mưa đến là tinh nghịch . Rồi ào ào đi ngay ) - Bài thơ có mấy khổ thơ? - Các dòng thơ được trình bày như thế nào? 3. Thực hành – vận dụng - HS viết từ khó vào nháp: Gió, trang, mỡ màu,nghịch. - GV đọc bài cho HS viết chính tả. - Đọc lại lần 2 cho học sinh soát lỗi. - Nhận xét bài viết. HĐ3. Hướng dẫn HS làm bài tập : - Gọi HS đọc yêu cầu bài, làm bài vào vở.
  4. - Chữa bài: Lào, Nam cực, Thái Lan. Màu vàng, cây dừa, con voi. HS làm bài đổi chéo vở kiểm tra kết quả. 4. Hoạt động sáng tạo: - Nhận xét giờ học. - Những bạn có bài viết chưa đạt yêu cầu viết lại. ___________________________________ Luyện từ và câu ĐẶT VÀ TRẢ LỜI CÂU HỎI: BẰNG GÌ?DẤU CHẤM, DẤU HAI CHẤM I. MỤC TIÊU 1. Kiến thức- Kĩ năng Tìm và nêu được tác dụng của dấu hai chấm trong đoạn văn Điền đúng dấu chấm, dấu hai chấm vào chỗ thích hợp (BT2). Tìm được bộ phận câu trả lời cho câu hỏi Bằng gì? (BT3) 2. Năng lực - Phẩm chất: HS nắm đượctác dụng của dấu 2chấm II. ĐỒ DÙNG DẠY HỌC Bảng phụ III. HOẠT ĐỘNG DẠY VÀ HỌC 1. Khởi động: HS biết kể tên một số nước trên thế giới GV nhận xét bổ sung thêm 2. Thực hành - vận dụng 1.Giới thiệu bài: 2. Hướng dẫn HS làm bài tập : Bài tập 1: Gọi 1 HS đọc yêu cầu bài. Hỏi: Trong bài có mấy dấu 2 chấm? - HS thảo luận tác dụng của từng dấu 2 chấm. ( Ví dụ: Dấu 2 chấm thứ nhất dùng để dẫn lời nói nhân vật Bồ Chao). Lời giải: Còn hai dấu hai chấm nữa. Một dấu dùng để giải thích sự việc, dấu còn lại dùng để dẫn lời nhân vật: (Tu Hú). => GV kết luận: Dấu 2 chấm dùng để báo hiệu cho người đọc biết tiếp sau đó là lời của một nhân vật hoặc lời giải thích cho ý đứng trước. - HS làm bài, đổi chéo vở kiểm tra Bài tập 2: - Gọi HS đọc yêu cầu BT và 2 đoạn văn trong bài. - HS điền dấu chấm hoặc dấu 2 chấm vào mỗi ô trống. Hỏi: Tại sao ở ô trống thứ nhất ta lại điền dấu chấm?
  5. Tại sao ở ô trống thứ 2, 3 ta lại điền dấu 2 chấm? + Cả lớp nhận xét, chốt lại lời giải đúng. -Khi đã trở thành nhà bác học lừng danh thế giới, Đác – uyn vẫn không ngừng học. Có lần thấy cha còn miệt mài đọc sách giữa đêm khuya, con của Đác – uyn hỏi: “ Cha đã là nhà bác học rồi còn phải ngày đêm nghiên cứu làm gì nữa cho mệt ? ”. Đác – uyn ôn tồn đáp: “ Bác học không có nghĩa là ngừng học ”. - Yêu cầu học sinh nhắc lại cách dùng dấu 2 chấm. - HS làm bài, đổi chéo vở kiểm tra Bài tập 3: Gọi 1 HS đọc lại yêu cầu bài và các câu văn trong bài. - HS gạch chân dưới bộ phận TLCH: Bằng gì? a. Nhà ở vùng này phần nhiều làm bằng gỗ xoan. b. Các nghệ nhân đã thêu nên bức tranh tinh xảo bằng đôi bàn tay khéo léo của mình. c. Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, Việt Nam ta đã xây dựng nên non sông gấm vóc bằng trí tuệ, mồ hôi và cả bằng máu của mình. - GV chữa bài. - HS làm bài, đổi chéo vở kiểm tra 3. Hoạt động sáng tạo: - HS nêu lại nội dung bài học. Nhận xét giờ học. Thủ công LÀM QUẠT GIẤY TRÒN (tiếp) I. MỤC TIÊU: 1. Kiến thức- Kĩ năng: Học sinh biết cách làm quạt giấy tròn. 2. Năng lực – Phẩm chất - Phát triển tư duy sáng tạo, yêu thích môn học - HS biết cách làm quạt giấy tròn. - Làm được quạt giấy tròn. Các nếp gấp có thể cách nhau hơn một ô và chưa đều nhau. Quạt có thể chưa tròn. II. ĐỒ DÙNG DẠY HỌC: - Mẫu quạt giấy tròn có kích thước đủ lớn để HS quan sát. - Giấy thủ công, sợi chỉ, kéo thủ công, hồ gián. III. HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC: 1. Khởi động: - HS hát tập thể
  6. 2. Khám phá- Hình thành kiến thức mới HĐ 1: Giới thiệu tiết học: HĐ 2: Nhắc lại cách làm giấy tròn. 3. Thực hành - Vận dụng HĐ 3: HS thực hành làm quạt giấy tròn và trang trí. - GV gọi 1- 2 HS nhắc lại các bước làm quạt giấy tròn. - GV nhận xét và hệ thống lại các bước làm quạt giấy tròn: Bước 1: Cắt giấy. Bước 2: Gấp, dán quạt. Bước 3: Làm cán quạt và hoàn chỉnh quạt. - HS thực hành làm quạt giấy tròn, GV gợi ýcho HS trang trí quạt bằng cách vẽ các hình hoặc dán các nan giấy bạc nhỏ, hay kẻ các đường màu song song theo chiều dài tờ giấy trước khi gấp quạt. - GV nhắc HS: Để làm được chiếc quạt tròn đẹp, sau khi gấp xong mỗi nếp gấp phải miết thẳng và kĩ. Gấp xong cần buộc chặt bằng chỉ vào đúng nếp gấp giữa. Khi dán bôi hồ mỏng đều. - Trong quá trình HS thực hành, GV quan sát và gúp đỡ những em còn lúng túng để các em hoàn thành sản phẩm. - Tổ chức cho HS trưng bày, nhận xét và tự đánh giá sản phẩm. - GV đánh giá sản phẩm của HS và tuyên dương những sản phẩm đẹp 4. Hoạt động sáng tạo. - Nhận xét giờ học. - Về nhà làm lại đẹp hơn _____________________________ Thứ 6 ngày 7 tháng 5 năm 2021 Toán LUYỆN TẬP CHUNG. I. MỤC TIÊU: 1. Kiến thức - Kĩ năng Giúp HS: - Biết tính giá trị của biểu thức số. - Biết giải toán liên quan đến rút về đơn vị. 2. Năng lực- Phẩm chất: HS nắm chắc kiến thức về tính giá trị của biểu thức, rèn kĩ năng giải toán II. HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC: 1.Khởi động HS làm bảng con: Tính giá trị của biểu thức 4512 + 24785 x 3 = (4512 +24785) x3=
  7. GV nhận xét 2. Khám phá - hình thành kiến thức mới Luyện tập: Bài 1: Tính. - HS nhắc lại quy tắc thực hiện các phép tính trong biểu thức. - Phần a và phần b: Thực hiện phép tính trong ngoặc rồi mới thực hiện phép tính ngoài ngoặc. Phần c, d làm nhân, chia trước, cộng , trừ sau. - 4 em lên bảng thực hiện, lớp làm vào vở. - Chữa bài, nhận xét và thống nhất kết quả. Bài 2. HS tìm hiểu, hường học mỗi tuần lễ có 5 tiết toán? Vậy một năm có 175 tiết Toán học bao nhiêu tuần lễ? - HS lên bảng làm bài, dưới lớp làm vào vở. - Chữa bài, nhận xét và thống nhất kết quả: 35 tuần.. Bài 3: Đây là bài toán dạng nào? Muốn biết 2 người nhận được số tiền thưởng là: - Một học sinh lên bảng giải, cả lớp làm bài vào vở. - Nhận xét bài bạn. Đáp số: 50 000 (đồng). Bài 4: - HS nhắc lại quy tắc tính chu vi hình vuông. Từ đó nêu cách tính cạnh hình vuông khi biết chu vi của hình đó (chu vi chia cho 4). - HS nhắc lại quy tắc tính diện tích hình vuông. - HS lên bảng làm bài, dưới lớp làm vào vở. - Chữa bài, nhận xét và thống nhất kết quả. - Các bước giải: + Đổi ra cm: 2dm = 20 cm. + Tính cạnh hình vuông: 20: 4 = 5cm. + Tính diện tích hình vuông: 5 x 5 = 25(cm2). 3. Hoạt động sáng tạo - GV nhận xét chung tiết học - Về nhà lại bài _____________________________________ Tập làm văn NÓI, VIẾT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG I. MỤC TIÊU: 1. Kiến thức- Kĩ năng - Biết kể lại một việc tốt đã làm để bảo vệ môi trường dựa theo gợi ý (SGK) - Viết được đoạn văn ngắn (Khoảng 7 câu) kể lại việc làm trên.
  8. - GDKN: Giao tiếp: lắng nghe, cảm nhận, chia sẻ, bình luận; Đảm nhận trách nhiệm; Xác định giá trị; Tư duy sáng tạo. 2. Năng lực- Phẩm chất - GDMT: Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường thiên nhiên. * Giúp HS yếu biết được việc rốt bảo vệ môi trường. II. ĐỒ DÙNG DẠY HỌC: - Tranh, ảnh về môi trường III. HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC: 1. Khởi động H: Em cần làm gì để bảo vệ môi trường? 2. Thực hành – vận dụng HĐ 1. Giới thiệu bài: HĐ 2. Hướng dẫn HS làm bài tập: Bài 1: - Gọi 1 HS đọc yêu cầu bài: - HS đọc gợi ý trong sgk. - GV giúp HS xác định thế nào là việc tốt góp phần bảo vệ môi trường: Em hãy kể tên những việc tốt góp phần bảo vệ môi trường mà học sinh chúng ta có thể tham gia. (HS tiếp nối nhau trả lời) H: Em đã làm việc tốt gì để góp phần bảo vệ môi trường? H: Em đã làm việc tốt đó ở đâu? Vào khi nào? H: Em đã tiến hành công việc đó ra sao? H: Em có cảm tưởng thế nào sau khi làm việc tốt đó? Bài 2: - HS đọc yêu cầu đề bài. - HS tự làm bài vào vở. - 2 HS đọc bài trước lớp. - GV nhận xét, HS. 3. Hoạt động sáng tạo - GV hệ thống bài - Nhận xét giờ học. __________________________________ Tự nhiên và xã hội NĂM, THÁNG VÀ MÙA I. MỤC TIÊU 1. Kiến thức- Kĩ năng Sau bài học HS biết:
  9. - Biết được một năm trên Trái Đất có bao nhiêu tháng , bao nhiêu ngày và mấy mùa. - Thời gian để trái đất chuyển động 1 vòng quanh mặt trời là 1 năm. - Một năm có 365 ngày và được chia thành 12 tháng. - Một năm có 4 mùa. *) GDMT: Bước đầu biết có các loại khí hậu khác nhau và ảnh hưởng của chúng đối với sự phân bố của các sinh vật. 2. Năng lực - Phẩm chất: - Tự chủ, tự học, giao tiếp và hợp tác, giải quyết vấn đề - HS nắm chắc được các mùa trong năm( Biết được mùa nắng và mùa mưa) II. ĐỒ DÙNG DẠY HỌC Các hình trong sgk. III.HOẠT ĐỘNG DẠY VÀ HỌC 1. Khởi động HS trả lời câu hỏi: Một ngày có bao nhiêu giờ? 2. Khám phá - hình thành kiến thức mới Hoạt động 1: Thảo luận nhóm. - Một năm có bao nhiêu ngày, bao nhiêu tháng. - Số ngày trong các tháng có bằng nhau không? - Đại diện các nhóm trình bày kết quả thảo luận. - HS quan sát H1 sgk, GV giảng cho HS biết thời gian để trái đất chuyển động vòng quanh mặt trời là 1 năm. Hỏi: Khi chuyển động được 1 vòng quanh mặt trời, trái đất đã tự quay quanh mình nó được bao nhiêu vòng? * Kết luận: Thời gian để trái đất chuyển động được 1 vòng quanh mặt trời là 1 năm. Hoạt động 2: Làm việc với sgk theo cặp: - Trong các vị trí A, B, C, D của trái đất trên hình 2, vị trí nào của Trái Đất thể hiện bắc bán cầu là mùa xuân, mùa hạ, mùa thu và mùa đông. - Hãy cho biết các mùa của bắc bán cầu vào các tháng 3, 6, 9, 12. * Kết luận: Có một số nơi trên trái đất, một năm có 4 mùa. Các mùa ở Bắc bán cầu và Nam bán cầu trái đất trái ngược nhau. Hoạt động 3; Chơi trò chơi: Xuân, hạ, thu, đông. Cách tiến hành: + Bước 1: Giáo viên hỏi: - Khi mùa xuân, em cảm thấy như thế nào? ( Ấm áp ). - Khi mùa Hạ, em cảm thấy như thế nào? ( Nóng nực ).
  10. - Khi mùa Thu, em cảm thấy như thế nào? ( Mát mẻ ). - Khi mùa Đông, em cảm thấy như thế nào? ( Lạnh , rét ). + Bước 2: Cách chơi: - Khi giáo viên nói mùa Xuân thì học sinh cười. - Khi giáo viên nói mùa Hạ thì học sinh lấy tay quạt. - Khi giáo viên nói mùa Thu thì học sinh để tay lên má. - Khi giáo viên nói mùa Đông thì học sinh xuýt xoa. + Bước 3: Học sinh chơi theo cả lớp. 4. Hoạt động sáng tạo - Nhận xét giờ học. - Nhận xét đặc điểm các mùa trong năm. _______________________________ Giáo dục tập thể SINH HOẠT LỚP I. MỤC TIÊU: 1. Kiến thức, kĩ năng: - Tự nhận ra ưu điểm và tồn tại trong tuần 32. Từ đó có hướng khắc phục trong tuần 32. Phổ biến kế hoạch tuần 33. - Biết được nguồn gốc ra đời và ý nghĩa lịch sử ngày thành lập Đội Thiếu niên Tiền phong 2. Năng lực- Phẩm chất: - Rèn luyện ý thức tự giác cho HS trong các hoạt động II. NỘI DUNG SINH HOẠT A. Sinh hoạt lớp 1. Đánh giá hoạt động tuần 32. - Đánh giá, nhận xét về học tập, lao động và các và các hoạt khác của lớp trong tuần 32. - HS nắm được những ưu,khuyết diểm của cá nhân và tập thể trong tuần 32. Phổ biến kế hoạch tuần 33. * Hoạt động 1: Sơ kết tuần 32 1.Lớp trưởng điều hành các tổ tổng kết tình hình của tổ trong tuần 32. * Các tổ trưởng tổ lần lượt nhận xét về mọi tình hình học tập, vệ sinh, nề nếp hoạt động của tổ mình. * Tổ trưởng các tổ nêu: - Học tập:
  11. - Ý thức xây dựng bài: + Không chuẩn bị bài: Quên sách vở, hoàn thành bài trong các tiết học: + Tích cực phát biểu trong giờ học: - Nề nếp: - Số lượng: + Vắng học: Có lí do: Vắng không lí do: + Đi chậm, nói chuyện riêng nhiều: Chưa chú ý bài học: - Vệ sinh trực nhật sân trường, vệ sinh lớp học: + Vệ sinh cá nhân còn bẩn: không có. + Vệ sinh lớp hoc, vệ sinh khu vực vệ sinh phân công của tổ: + Ý thức thực hiện nền nếp bán trú. - Ý kiến thảo luận tổ 1: Các thành viên trong tổ nêu ý kiến, phản hồi đánh giá của tổ trưởng. + Thực hiện thi đua giữa các tổ. - Ý kiến thảo luận giữa các tổ. Ngọc nhận xét nền nếp ăn ngủ bán trú tuần 32 3. Giáo viên tổng kết. - GV nhận xét chung về tình hình học tập, nề nếp, vệ sinh, trong tuần + Nề nếp lớp: HS đã bắt đầu có ý thức giữ trật tự trong giờ học. Tuy nhiên, một số bạn còn nói chuyện riêng, nền nếp chuyển tiết như các bạn đã nêu + Vệ sinh, trực nhật: Một số bạn biết giữ vệ sinh cá nhân sạch sẽ, đi giày ba ta đúng quy định: Thảo, Ánh, Quang Huy, Quốc Huy, Linh, Khánh. + Học tập: Nhiều em có ý thức học tốt. Bên cạnh đó một số em chưa có ý thức học như: Bảo, Gia Kiệt, Tuấn Anh. - GV cùng lớp tuyên dương bạn tuần này có tiến bộ trong học tập rất nhiều. * Hoạt động 2: Kế hoạch tuần sau: - Tiếp tục duy trì ổn định nền nếp trong lớp, nhà trường đề ra - Chấp hành mọi nền nếp sinh hoạt học tập. - Thực hiện mọi nề nếp của lớp đề ra. - Ôn tập kiến thức đã học để chuẩn bị đón đoàn kiểm tra khảo sát chất lượng. -Rèn chữ viết cho: Long, Gia Kiệt, Bảo, Mạnh, .... - Khắc phục nền nếp trong giờ học trong lớp, nền nếp ăn ngủ bán trú tốt. - Vệ sinh khu vực được phân công kịp thời, sạch sẽ. Cần làm vệ sinh trực nhật sớm hơn nữa. - Chăm sóc tốt công trình măng non
  12. - Nền nếp các tiết chuyển tiết cần nghiêm túc, không nói chuyện từ lớp học di chuyển xuống phòng chức năng. - Bảo vệ tài sản nhà trường, tắt quạt, kiện khi không dùng - Đi vệ sinh công cộng xả nước đúng qui trình. B. SƠ LƯỢC LỊCH SỬ ĐỘI THIẾU NIÊN TIỀN PHONG HỒ CHÍ MINH 1. Hoàn cảnh lịch sử - xã hội nước ta trước ngày thành lập Đội thiếu nhi cứu quốc: Năm 1858, thực dân Pháp đặt chân tại bến cảng Đà Nẵng mở đầu cho cuộc chiến tranh xâm lược kéo dài hơn 80 năm tại ViệtNam. Dưới chế độ thực dân Pháp, Phát xít Nhật và bọn vua quan phong kiến, cuộc sống của nhân dân ta rất khổ cực. Cha mẹ bị nô lệ, bị áp bức, mất tự do, sống trong cảnh nghèo khổ, con cái ăn không đủ no, mặc không đủ ấm, không được cắp sách đến trường. Nhiều gia đình phải bán vợ đợ con đi làm tôi tớ cho địa chủ, tư bản. Trước tình hình đó, Bác Hồ (lúc đó với tên là Nguyễn Tất Thành) đã sớm có chí quyết tìm ra con đường cứu nước, cứu dân. Ngày 05 tháng 6 năm 1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã đổi tên là anh Ba, rời bến cảng Nhà Rồng với công việc phụ bếp trên tàu Đô đốc La- tút- sơ Tơ- rê- vin- lơ ra nước ngoài hoạt động cách mạng. Ngày 3 tháng 2 năm 1930, tại bán đảo Cửu Long (Trung Quốc) Đảng Cộng sản Việt Namđược thành lập và nhất trí thông qua Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ vắn tắt do Bác Hồ khởi thảo. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử cách mạng nước ta. 2. Một số hoạt động của thiếu nhi Việt Nam và các tổ chức tiền thân của Đội ta trước ngày thành lập Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, phong trào cách mạng nước ta phát triển mạnh mẽ. Nơi nào có chi bộ Đảng và tổ chức Đoàn thì nơi đó có tổ chức Đội Thiếu nhi hoạt động giúp cách mạng. Trong phong trào công nông (1930- 1931), tại các chi bộ ở Nghệ An, Hà Tĩnh, Thái Bình đã tập hợp được nhiều đội viên thiếu niên cách mạng sinh hoạt trong các đội Đồng Tử quân. Trong các đội Đồng Tử quân có những đội viên gan dạ nhạnh nhẹn được giao nhiệm vụ liên lạc, đưa thư từ, rải truyền đơn. Hai đội viên Trần Quốc Việt và Nguyễn Tư Năm đã có sáng kiến kẹp tờ truyền đơn vào tên tre, dùng cung bắn vào đồn lính ở Dương Liễu. Lợi dụng đêm tối, hai bạn nhỏ bò tới gần đồn rồi bắn truyền đơn vào, khiến cho tinh thần quân lính xôn xao, có tên đã bỏ về. Tại Thái Bình, có một đội viên tên là Ba, con nhà nghèo, đã theo người lớn đi đấu tranh chống thuế vào cuối năm 1930. Ba bị địch bắt, bị đánh đập dã man vẫn nhất quyết không khai. Lúc ở tù không sợ hãi, còn dùng que, dùng mảng gạch non thay phấn để học chữ. Về sau, bọn giặc phải thả Ba về. Trong phong trào Dân chủ (1936-1939), dưới sự lãnh đạo của Đoàn Thanh niên Dân chủ, nhiều tổ chức Hồng Nhi đoàn được thành lập ở một số tỉnh như Hà Đông, Nam Định, Hải Phòng....Nhiều đội viên hoạt động rất hăng hái trong các
  13. đội kịch, đội múa, đội ca nhạc, đội bóng... Tổ chức Đội Thiếu niên đã từng bước được hình thành. 3. Ý nghĩa, tầm quan trọng của việc thành lập Đội TNTP Hồ Chí Minh Đội TNTP Hồ Chí Minh được thành lập theo nhu cầu tất yếu của lịch sử đất nước, bởi lẽ lịch sử Đội TNTP Hồ Chí Minh và phong trào thiếu nhi Việt Nam là bộ phận hữu cơ trong lịch sử dân tộc, lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, và lịch sử Đoàn TNCS Hồ Chí Minh. Trước ngày thành lập Đội, thiếu nhi cũng đã tập hợp hoạt động theo nhóm nhưng không có sự thống nhất chỉ mang tính chất theo từng địa phương vì một mục đích chung là cùng cha anh tham gia cách mạng. Ngày 15 tháng 5 năm 1941, Đội Nhi đồng cứu quốc ra đời nhằm tập hợp thiếu nhi vào một tổ chức thống nhất từ Trung ương đến từng địa phương dưới sự hướng dẫn, phụ trách của Đoàn Thanh niên, giáo dục các em theo tinh thần cách mạng và coi các em là một lực lượng cách mạng. Đội TNTP Hồ Chí Minh thành lập cho thấy thiếu niên, nhi đồng đã có tổ chức của mình, có Điều lệ và nguyên tắc hoạt động riêng của tổ chức mình. Tổ chức Đội được thành lập có vai trò to lớn trong việc hình thành và phát triển toàn diện nhân cách của thiếu niên nhi đồng. Việc thành lập Đội TNTP Hồ Chí Minh còn có tầm quan trọng vì tập hợp các em trong cùng độ tuổi thiếu niên nhi đồng, như vậy các em có cùng chung về mặt tâm lí, yêu thích hoạt động cùng nhau học hỏi, được rèn luyện và trưởng thành. 4. Ngày thành lập Đội 15 tháng 5 năm 1941 Tháng 2 năm 1941, Nguyễn ái Quốc- Hồ Chí Minh bí mật về nước ở vùng Pác Pó (Cao Bằng) để trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Tháng 5 năm 1941, Hội nghị lần thứ 8 của Trung ương Đảng do lãnh tụ Nguyễn ái Quốc chủ trì. Từ sự phân tích diễn biến của tình hình thế giới và trong nước, Hội nghị khẳng định nhiệm vụ chủ yếu trước mắt của cách mạng Việt Nam là giải phóng dân tộc. Hội nghị quyết định thành lập Việt Nam Độc lập Đồng Minh Hội, gọi tắt là Việt Minh và tổ chức ra các đoàn thể cứu quốc của Việt Minh. Hội nghị đã quyết định thành lập Hội Nhi đồng cứu vong là đoàn thể cứu quốc của trẻ em từ 10 - 11 tuổi trở lên đến 15 - 16 tuổi và giao cho Đoàn phụ trách công tác thiếu nhi. 4.1. Nhiệm vụ của Đội Nhi đồng cứu quốc Trên tinh thần “Tuổi nhỏ làm việc nhỏ” và cũng là phù hợp với lứa tuổi, Đội Nhi đồng cứu quốc có nhiệm vụ: Làm giao thông liên lạc, canh gác bảo vệ các cuộc họp của Đảng, là lực lượng dự bị đánh Tây đuổi Nhật. 4.2. Lễ thành lập Đội Nhi đồng cứu quốc (15/5/1941) Ngày 15/5/1941 trở thành mốc son sáng chói trong lịch sử vẻ vang của Đội TNTP Hồ Chí Minh. Ngày ấy, ở gần hang Pác Bó, xuôi dòng suối Lê Nin, dưới
  14. chân núi Thoong Mạ, ở thôn Nà Mạ, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng có 5 thiếu niên là Nông Văn Dền, Nông Văn Thàn, Lý Văn Tịnh, Lý Thị Nì, Lý Thị Xậu, được các anh Đức Thanh và các anh cán bộ cách mạng giác ngộ, thử thách, tập hợp để thành lập Đội Nhi đồng Cứu quốc theo quyết định của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đội có mục đích là tham gia đánh Tây, đuổi Nhật, giành độc lập cho nước nhà” với nhiệm vụ làm giao thông thông liên lạc, đưa đón, bảo vệ cán bộ, canh gác cho các cuộc họp của Đảng... Để đảm bảo bí mật, tổ chức Đội đã đặt bí danh cho các đội viên: Dền mang bí danh Kim Đồng, Thàn là Cao Sơn, Tịnh là Thanh Minh, Xậu là Thanh Thuỷ, Ni là Thuỷ Tiên. Cuộc họp đã bầu Kim Đồng làm đội trưởng. Cuối buổi lễ cả 5 bạn được kết nạp Đội đã tuyên thệ “Trung thành với Đảng, tuyệt đối giữ bí mật, dù có phải hi sinh cả tính mạng cũng không phản bội lại nhân dân và cách mạng”. Đội Nhi đồng cứu quốc chính thức thành lập (về sau gọi là Đội thiếu nhi cứu quốc). 5. Những hoạt động chính và một số mốc son tiêu biểu của tổ chức Đội Lớn mạnh cùng lịch sử dân tộc, tổ chức Đội đã từng bước được xây dựng và phát triển ở một số tỉnh thành như: Cao Bằng, Hà Nội, Hà Nam... Hình thức tổ chức rất phong phú , bên ngoài là các đội bóng, đá cầu, đội ca hát nhưng bên trong là các hoạt động cách mạng, tuyên truyền cổ động cho Việt Minh. Càng gần đến năm 1945, phong trào cách mạng ở nước ta càng mạnh mẽ, Pháp- Nhật càng tàn ác, nhân dân ta càng kiên cường đấu tranh. Nhiều thiếu nhi đã cùng người lớn tham gia chống thuế, phá kho thóc hoặc theo du kích lên chiến khu. Trong chiến công tiêu diệt hai đồn địch Phai Khắt và Nà Ngần của Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân ( tháng 12 năm 1944), có sự góp phần tích cực của em Hồng, một đội viên thiếu niên, làm nhiệm vụ trinh sát đã dũng cảm lọt hẳn vào đồn địch do thám tình hình. Ngày 19 tháng 8 năm 1945, thiếu nhi Hà Nội đã cùng cha anh tham gia chiếm công sở, trong đó có trại Bảo an binh, góp phần làm nên chiến thắng của cách mạng tháng Tám vĩ đại. Mặc dù rất bận với các công việc của đất nước, nhưng Đảng, Bác Hồ luôn dành cho các em thiếu nhi sự quan tâm đặc biệt. Nhân ngày khai trường năm học đầu tiên và tết trung thu đầu tiên dưới chế độ mới, Bác Hồ đã viết thư cho học sinh và thiếu nhi cả nước nhắc nhở các em ra sức học tập, siêng tập thể thao và ra sức giúp cho Nhi đồng cứu vong Hội, để mai sau lớn lên thành những người dân xứng đáng với một nước độc lập, tự do. 6. Câu chuyện về anh Kim Đồng, người đội trưởng đầu tiên của Đội Kim Đồng tên thật là Nông Văn Dền, người đội trưởng đầu tiên của Đội, sinh năm 1928, người dân tộc Nùng, ở thôn Nà Mạ, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Nhà Kim Đồng rất nghèo. Cha bị chết vì nạn phu phen lao dịch của thực dân Pháp. Anh trai đi công tác luôn. ở nhà chỉ có mẹ tàn tật và người em họ mồ côi là Cao Sơn.
  15. Từ bé, Kim Đồng đã có tinh thần yêu nước, căm ghét giặc Pháp. Vùng quê hương Kim Đồng là nơi có phong trào cách mạng rất sớm. Ngày 15 tháng 5 năm 1941, Đội Nhi đồng cứu quốc được thành lập có 5 đội viên và Kim Đồng được bầu là đội trưởng đầu tiên của Đội. Trong công tác, Kim Đồng luôn tỏ ra dũng cảm và có nhiều mưu trí. Một lần, sau khi làm nhiệm vụ dẫn cán bộ vào căn cứ, Kim Đồng đang trên đường trở về nhà thì nghe có tiếng động lạ ở trong rừng. Kim Đồng liền rủ Cao Sơn tìm cách báo động cho các anh cán bộ đang ở trong xóm biết. Sau khi quan sát, Kim Đồng đã nhìn thấy bọn lính đang lợi dụng sương mù phục kích trên đường vào xóm và im lặng đợi bắt người. Kim Đồng bảo Cao Sơn lùi về phía sau, chạy về báo cáo. Đợi cho bạn đi rồi, Kim Đồng ngắm kĩ địa hình, để chạy vọt qua suối, lên phía rừng. Như vậy, bọn lính sẽ phải nổ súng hoặc kêu lên. Chúng nó sẽ bị lộ. Quả nhiên, thấy có bóng người chạy, bọn giặc lên đạn và hô: “Đứng lại!”. Kim Đồng không dừng chân. Giặc bắn theo. Anh Kim Đồng đã anh dũng hi sinh. Hôm ấy là sáng sớm ngày 15 tháng 02 năm 1943. 7. Các hoạt động, mốc son tiêu biểu của Đội giai đoạn 1945- 1954 Ngày 23 tháng 9 năm 1945, thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm Nam Bộ, quyết xâm lược nước ta một lần nữa. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Bác Hồ và sự phụ trách của Đoàn, tổ chức Đội đã tập hợp các em thiếu nhi tham gia tích cực vào các phong trào chống giặc đói, giặc dốt, chống giặc ngoại xâm. Tiếng vang của Đội Nhi đồng cứu quốc Mai Hắc Đế (Hà Nội) lan nhanh sang các tỉnh khác, thiếu nhi đã tích cực tham gia kháng chiến như làm liên lạc, vào du kích, trinh sát, tình báo. Gương chiến đấu dũng cảm của Kim Đồng từ chiến khu lan về cùng ánh đuốc sống Lê Văn Tám; hoạt động của các Đội Thiếu niên Bát Sắt, Đội Thiếu niên Phan Rí, Đội Thiếu niên Phan Đình Phùng,... đã thôi thúc, cổ vũ những người bạn cùng lứa tuổi viết thêm trang mới trong cuốn lịch sử Đội của chúng ta. Giữa năm 1946, hai tổ chức Đội TNTP và Hội Nhi đồng cứu vong sát nhập lại làm một và lấy tên chung là Đội Thiếu nhi cứu quốc. Mùa xuân năm 1947, có một đội viên dũng cảm của Đội ta đã anh dũng hi sinh trong khi làm nhiệm vụ liên lạc ở trận đánh bên làng Giá ngoại thành Hà Nội, đó là Dương Văn Nội- người đội viên là liệt sĩ thiếu niên đầu tiên được Chính phủ truy tặng Huân chương Quân công hạng Ba. Ngoài ra còn nhiều gương chiến đấu hi sinh dũng cảm của thiếu nhi mãi mãi làm đẹp trang sử Đội ta như: Vừ A Dính (Lai Châu), Phạm Ngọc Đa (Hải Phòng),... Tháng 2 năm 1948, Bác Hồ gửi thư cho các cháu nói về nội dung, ý nghĩa và cách tổ chức “Phong trào Trần Quốc Toản” nhằm động viên khuyến khích thiếu nhi thi đua học tập và giúp đỡ đồng bào, trước hết là các gia đình bộ đội, neo đơn, thương binh, liệt sĩ... Phong trào nhanh chóng phát triển rộng khắp.
  16. Tháng 3 năm 1951, Hội nghị cán bộ Đoàn Thanh niên cứu quốc đã quyết định thống nhất lực lượng thiếu nhi, lấy tên là Đội Thiếu nhi tháng Tám và thống nhất một số chủ trương mới như thiếu nhi đeo khăn quàng đỏ, bài ca chính thức, khẩu hiệu, đẳng hiệu, cấp hiệu, phiên chế tổ chức của Đội. Như vậy, sau những năm kháng chiến chống thực dân Pháp đầy gian khổ, hi sinh, tổ chức Đội đã thực sự trưởng thành về mọi mặt với bao chiến công. Nhiều tập thể của đội viên đã được khen thưởng, xứng đáng với niềm tin yêu sâu sắc của Đảng, Nhà nước, Bác Hồ và nhân dân. 8. Hoạt động, mốc son của Đội trong giai đoạn 1954 - 1975 Ngày 01 tháng 6 năm 1954, ở Việt Bắc, tờ báo “Tiền phong Thiếu niên” của Đội ra đời tiền thân của báo “Thiếu niên tiền phong” ngày nay. Tờ báo là tiếng nói của thiếu niên, nhi đồng nêu các phong trào của Đội và phong trào thiếu nhi Việt Nam, nhằm hướng các em vào những hoạt động có ích, góp phần giáo dục và bồi dưỡng nhân cách, đạo đức và trách nhiệm xã hội cho các em. Tháng 11 năm 1956, Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ II đã quyết định đổi tên Đội Thiếu nhi tháng Tám thành Đội TNTP Việt Nam. Cũng trong năm 1956, Đội được tổ chức theo cơ sở trường học nhằm giáo dục thiếu nhi một cách toàn diện và góp phần xây dựng nhà trường xã hội chủ nghĩa. Đặc biệt, năm 1958, phong trào Kế hoạch nhỏ ra đời, nhanh chóng cuốn hút các em thiếu niên nhi đồng tham gia. Ngày 17 tháng 6 năm 1957, Nhà xuất bản Kim Đồng chính thức được thành lập. Nhiều loại trang thiết bị phục vụ cho hoạt động Đội: Trống, cờ, khăn quàng đỏ cũng được đầu tư sản xuất. Nhân dịp kỉ niệm lần thứ 18 ngày thành lập Đội (15/5/1959), Bác Tôn Đức Thắng thay mặt Bác Hồ và Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã trao lá cờ thêu dòng chữ vàng: “Vì sự nghiệp xã hội chủ nghĩa và thống nhất Tổ quốc, sẵn sàng!”. Năm 1961, nhân dịp kỉ niệm lần thứ 20 ngày thành lập Đội TNTP Việt Nam (15/5/1941- 15/5/1961), Bác Hồ đã gửi thư cho thiếu nhi cả nước và căn dặn các em 5 điều: “ Yêu Tổ quốc, yêu đồng bào Học tập tốt, lao động tốt Đoàn kết tốt, kỉ luật tốt Giữ gìn vệ sinh thật tốt Khiêm tốn thật thà dũng cảm”. 5 điều Bác Hồ dạy từ đó đã trở thành niềm tin, sức mạnh, niềm vui, phương hướng cho mọi hoạt động của Đội. Những điển hình tốt, những gương mặt tiêu biểu, những việc làm mang nếp sống của người lao động mới xuất hiện và tươi nở rực rỡ như hoa mùa xuân, điển hình như: Bùi Thị Tứ (Thái Bình), 13 tuổi đã cõng bạn Nguyễn Thị Hồng bị liệt chân đi học suốt ba năm, được Bác Hồ
  17. thưởng huy hiệu; Nguyễn Ngọc Ký ở Hải Hậu (Hà Nam) bị liệt hai tay từ thủơ nhỏ, đã luyện cách viết bằng chân, bền bỉ học tập suốt từ lớp 1 đến khi học xong đại học và trở thành giáo viên; Nguyễn Bá Ngọc (Thanh Hoá) quên mình cứu hai em nhỏ,... Nhiều tập thể Đội xuất sắc như: Liên đội Tam Sơn (Bắc Ninh) quê hương phong trào “Nghìn việc tốt”, Liên đội cấp I, II Trưng Vương (Hà Nội), Liên đội trường cấp 2 Bắc Lý (Hà Nam)... Ở miền Nam, cuộc kháng chiến chống Mĩ diễn ra vô cùng gian khổ, Trong hoàn cảnh ấy, những trang sử vẻ vang của Đội thiếu niên, nhi đồng miền Nam cũng được bắt đầu. Với tinh thần “ Tuổi nhỏ chí lớn”, thiếu niên nhi đồng miền Nam gan dạ, anh hùng không sợ hi sinh đứng lên cùng cha anh đánh giặc. Ngày 5 tháng 8 năm 1964, đế quốc Mĩ cho không quân đánh phá miền Bắc, thiếu nhi cả nước bước sang một thời kì mới với lời son sắt thêu trên lá cờ của Trung ương Đảng trao cho nhân dịp kỉ niệm lần thứ 25 ngày sinh nhật Đội (15/5/1966): “ Vâng lời Bác dạy Làm nghìn việc tốt Chống Mĩ cứu nước Thiếu niên sẵn sàng!” Ngày 2 tháng 9 năm 1969, Bác Hồ vĩnh viễn ra đi, để lại cho thiếu niên nhi đồng cả nước “muôn vàn tình thương yêu”. Trung ương Đoàn thay mặt tuổi trẻ cả nước đề nghị Trung ương Đảng cho Đoàn, Đội được mang tên Bác. Thể theo nguyện vọng của tuổi trẻ, ngày 30/ 01/1970, Đội được mang tên Bác Hồ vĩ đại: Đội TNTP Hồ Chí Minh.Hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng và Đoàn, lớp lớp đội viên cả hai miền Bắc Nam không ngại khó khăn, gian khổ hi sinh, phấn đấu trên tất cả các mặt học tập, lao động, chiến đấu, xây dựng Đội, góp phần làm nên thắng lợi vĩ đại của dân tộc Việt Nam vào mùa xuân năm 1975. Thực hiện theo năm điều Bác Hồ dạy, Đội TNTP Hồ Chí Minh hoàn thành nhiệm vụ trên các mặt hoạt động phấn đấu trở thành con ngoan trò giỏi, cháu ngoan Bác Hồ. 9. Hoạt động của Đội giai đoạn 1986 đến nay Đội TNTP Hồ Chí Minh cũng từng bước đổi mới các hoạt động của mình cho phù hợp với thực tiễn phát triển của đất nước. Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ V đã quyết định đổi mới nội dung và mở rộng các hình thức hoạt động Đội nhằm tập hợp đông đảo thiếu nhi cả nước “Nói lời hay, làm việc tốt, phấn đấu trở thành cháu ngoan Bác Hồ”. Các phong trào của Đội phát triển mạnh mẽ với các hình thức đa dạng và luôn đổi mới. Phong trào thi đua học tập, phong trào “Kế hoạch nhỏ”, “Phong trào Trần Quốc Toản” tiếp tục phát triển với những hình thức mới như: “áo lụa tặng bà”, “Uống nước nhớ nguồn”, “Những viên gạch hồng”, “Thiếu nhi nghèo vượt khó”,... Đại hội cháu ngoan Bác Hồ toàn quốc lần thứ ba, thứ tư, thứ năm lần lượt được tổ chức để
  18. biểu dương thành tích của thiếu nhi. Trong giai đoạn này, liên hoan các nhà thiếu nhi là một nét mới trong tổ chức và hoạt động của Đội TNTP Hồ Chí Minh. Tháng 8 năm 1991, Luật Bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em được Quốc hội thông qua nhằm thúc đẩy mạnh sự nghiệp chăm sóc, giáo dục trẻ em, tạo điều kiện cho trẻ em phát triển và trưởng thành. Ngày 25 tháng 7 năm 2003, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đoàn lần thứ 3 (khoá VIII) đã quyết định sửa đổi và ban hành Điều lệ Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh. Đây là cơ sở quan trọng tạo điều kiện cho Đội phát triển mạnh mẽ, vững bước trong thế kỉ 21, xứng đáng là tổ chức của thiếu nhi ViệtNam, là lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường. 10. Nhiệm vụ của Đội trong giai đoạn 1986 đến nay Thực hiện tốt năm điều Bác Hồ dạy, phấn đấu trở thành con ngoan trò giỏi, bạn tốt, đội viên tốt xứng đáng là cháu ngoan Bác Hồ. 11. Nhiệm vụ qua các thời kì đổi tên của Đội Đội Nhi đồng cứu quốc có nhiệm vụ là làm giao thông liên lạc, canh gác các cuộc họp bí mật cho cán bộ, dự bị đánh Tây đuổi Nhật. Đội Thiếu nhi cứu quốc (1946) có nhiệm vụ làm nhiệm vụ giao thông liên lạc, trinh sát góp phần cùng cha anh tham gia vào các cuộc đấu tranh chống giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm. Đội Thiếu nhi Tháng Tám (Tháng 3 năm 1951) có nhiệm vụ là làm theo lời Bác dạy “Tuổi nhỏ làm việc nhỏ”. Đội TNTP Việt Nam (Tháng 11 năm 1956) có nhiệm vụ là thực hiện theo năm điều Bác Hồ dạy. Đội TNTP Hồ Chí Minh (30 tháng 1 năm 1970) có nhiệm vụ thực hiện theo năm điều Bác Hồ dạy: 1. Yêu Tổ quốc, yêu đồng bào 2. Học tập tốt, lao động tốt 3. Đoàn kết tốt, kỷ luật tốt 4. Giữ gìn vệ sinh thật tốt 5. Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm! 12. Ý nghĩa những lần đổi tên của Đội - Sau cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời mở ra kỉ nguyên mới cho dân tộc: Kỉ nguyên độc lập - Tự do. Cuộc đấu tranh của nhân dân ta bước sang thời kì mới. Để phù hợp với nhiệm vụ cách
  19. mạng và cũng để khắc ghi mốc lịch sử quan trọng của đất nước, Đội Thiếu nhi cứu quốc được đổi tên gọi là Đội Thiếu nhi Tháng Tám (tháng 3 năm 1951). ________________________________ Tự học HOÀN THÀNH NỘI DUNG CÁC MÔN HỌC – LÀM BÀI TẬP TOÁN I. MỤC TIÊU: 1. Kiến thức- Kĩ năng - Giúp HS hoàn thành các môn học buổi sáng. - Biết cách thực hiện phép nhân, chia số có năm chữ số cho số có một chữ số, tính giá trị biểu thức. - Áp dụng phép chia để giải toán. 2. Năng lực – Phẩm chất Tự chủ,tự học, giải quyết vấn đề II. ĐỒ DÙNG DẠY HỌC: Bảng phụ. III.CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC: 1. Khởi động - HS hát tập thể 2. Thực hành – luyện tập - Giới thiệu bài Hoạt động 1: HS hoàn thành bài buổi sáng - GV tổ chức cho HS học tập. - GV chia lớp thành các nhóm: * Nhóm 1: Hoàn thành nội dung môn Toán - HS hoàn thành vở toán ô ly. - GV theo dõi và kiểm tra nhóm 1. * Nhóm 2: Hoàn thành nội dung học tập môn Tập làm văn - GV theo dõi và kiểm tra nhóm 2. * Nhóm 3: Hoàn thành nội dung học tập môn Tự nhiên và xã hội - HS hoàn thành VBT Tự nhiên và xã hội - GV theo dõi và kiểm tra nhóm 3. * Nhóm 4. Bài tập dành cho nhóm học sinh đã hoàn thành xong các bài buổi sáng Hoạt động 2: Hướng dẫn HS làm bài tập 1.Củng cố cách thực hiện phép nhân HS nêu quy trình đặt tính và thực hiện phép chia Bài 1: Đặt tính rồi tính Yêu cầu HS đặt tính và tính kết quả của hai phép tính . 24007 x 4 15060 x 5 8754 x 6 33765 : 5 45260 : 6 32 603 : 8
  20. HS làm BT vào vở, GV theo dõi, chấm bài. Kết quả 96028, 45180, 52524, 79884. HS đổi chéo vở KT kết quả. Bài 2 : Tính : a. 92578 – 10312 x 8 = c. 21658 + 42539 : 7 = b. 20453 x 2 + 17546 x 3 d. 18467 x 4 – 10495 x 5 HS đổi chéo vở KT kết quả. Yêu cầu HS nhắc lại : Trong biểu thức có các phép tính cộng,trừ, nhân,chia thì chúng ta thực hiện như thế nào ? - HS đọc yêu cầu đề bài - HS làm bài vào vở - HS đọc kết quả – Cả lớp nhận xét a. 92578 – 10312 x 8 = 92578 – 82496 = 10082 b. 20453 x 2 + 17546 x 3 = 40906 + 52638 = 93544 c.21658 + 42539 : 7 = 21658 + 6077 = 15581 b. 18467 x 4 – 10495 x 5 = 74588 - 52475 = 22113 HS đổi chéo vở KT kết quả. Bài 3: Có 60 cái bánh thì xếp đều vào 10 hộp. Hỏi có 78 cái bánh thì xếp đều vào bao nhiêu hộp như thế ? - HS đọ bài toán + Bước nào là bước rút về đơn vị ? + Bài toán giải như thế nào ? - HS nêu cách giải - HS giải bài toán vào vở - GV chấm bài, nhận xét Bài giải Mỗi hộp có số cái bánh là 60 : 10 = 6 (cái bánh Số hộp để 78 cái bánh là 78 : 6 = 13 (cái hộp) Đáp số: 13 cái bánh HS đổi chéo vở KT kết quả. Bài dành cho HSNK.