Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giáo dục trẻ 5 -6 tuổi học tốt hoạt động khám phá khoa học ở trường Mầm non

pdf 20 trang hathanh 16/04/2026 550
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giáo dục trẻ 5 -6 tuổi học tốt hoạt động khám phá khoa học ở trường Mầm non", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • pdfsang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_giao_duc_tre_5_6_tuoi.pdf

Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giáo dục trẻ 5 -6 tuổi học tốt hoạt động khám phá khoa học ở trường Mầm non

  1. UBND HUYỆN THẠNH TRỊ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TRƯỜNG MẦM NON LÂM TÂN Độc lập - Tự do - Hạnh phúc MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC TRẺ 5- 6 TUỔI HỌC TỐT HOẠT ĐỘNG KHÁM PHÁ KHOA HỌC Ở TRƯỜNG MẦM NON NĂM HỌC: 2024-2025 1.Thông tin sơ lược Họ và tên giáo viên: Nguyễn Nhã Phương Chức vụ, đơn vị công tác: Giáo viên Trường Mầm non Lâm Tân Nhiệm vụ được giao: Dạy lớp lá 1 Tên biện pháp: Một số biện pháp giáo dục trẻ 5 -6 tuổi học tốt hoạt động khám phá khoa học ở trường mầm non 2.Nội dung biện pháp a) Tóm tắt biện pháp Trẻ lứa tuổi mầm non, đặc biệt là trẻ 5-6 tuổi rất thích khám phá, tìm tòi về các sự vật, hiện tượng. Môn học khám phá hoa học tích hợp về các sự vật hiện tượng trong thiên nhiên gần gũi với trẻ, giúp trẻ thõa mãn nhu cầu tò mò, kích thích ham hiểu biết về thế giới xung quanh trẻ, rèn cho trẻ khả năng quan sát, ghi nhớ, tư duy, so sánh, phân tích, phân loại, khái quát sự vật hiện tượng theo cách riêng của trẻ, giúp trẻ tăng vốn từ. Hình thành cho trẻ lòng yêu thiên nhiên. Trong chương trình giáo dục mầm non hiện nay việc giáo dục trẻ theo hướng lấy trẻ làm trung tâm không còn xa lạ với giáo viên mầm non. Vì giáo viên đã áp dụng thường xuyên qua các hoạt động. Hơn hết hoạt động khám phá khoa học theo hướng lấy trẻ làm trung tâm trẻ được tự do trãi nghiệm các hoạt động, trẻ sẽ nhanh nắm kiến thức và phát triển khả năng sáng tạo và ghi nhớ, giúp trẻ hứng thú và kích thích não bộ trẻ phát triển. Môn học khám phá khoa học sẽ giúp trẻ phát triển toàn diện các mặt và hình thành nhân cách, trẻ sẽ tích lũy được những kiến thức, kỹ năng, thái độ và kinh nghiệm đã được học vào cuộc sống hàng ngày. Giúp trẻ phát triển toàn diện về đức (trẻ biết yêu thiên nhiên, cây cói, con vật, chăm sóc cây xanh, bảo vệ các con vật) trí (trẻ biết được các đặc điểm, cấu tạo, tính chất, công dụng, và các mối quan hệ của sự vật – hiện tượng) thể (phát triển khả năng vận động và các kỹ năng khéo léo, linh hoạt) mĩ (trẻ yêu cái đẹp và biết tạo ra cái đẹp) lao (rèn các kỹ năng lao động động đơn giản để bảo vệ môi trường.) Hiểu được tầm quan trọng, tích cực của môn học đối với sự phát triển của trẻ và mong muốn trẻ được vui chơi học tập đạt hiệu quả và góp ích cho cuộc sống hàng ngày nên tôi đã nghiên cứu và tìm ra những biện pháp hay, mới lạ, cuốn hút và kích thích sự hứng thú, tò mò của trẻ thông qua đề tài nghiên cứu “Một số biện pháp giáo dục trẻ 5-6 tuổi học tốt hoạt động khám phá khoa học ở trường mầm non” b) Tính mới
  2. - Giúp trẻ mạnh dạn, tự tin thể hiện bản thân trước mọi tình huống với các sự vật hiện tượng xung quanh. - Hình thành ở trẻ kỹ năng sống, tạo cơ hội cho trẻ trải nghiệm bản thân diễn đạt ngôn ngữ mạch lạc, rõ ràng, giúp trẻ hình thành một số kỹ năng phù hợp với cuộc sông hàng ngày. - Giúp trẻ phát triển toàn diện, khả năng nhận thức các sự vật hiện tượng chính xác, biết quan sát, phân tích và phân loại các sự vật hiện tượng theo những đặc điểm khác nhau. - Thông qua các thí nghiệm trẻ biết vận dụng những cái đã được học, được trãi nghiệm vào cuộc sống hàng ngày. Từ đó làm tăng vốn sống cho trẻ Qua quá trình tham gia vào các hoạt động, kiến thức của trẻ được bổ sung và củng cố phong phú, giúp trẻ phát triển tốt nên tôi đã mạnh dạn đưa ra những biện pháp sau: Biện pháp 1: Quan sát khả năng nhận thức của trẻ về khám phá khoa học Để trẻ tham gia vào hoạt động khám phá khoa học thật sự hiệu quả, có chất lượng, việc đánh giá chính xác thực trạng sự phát triển của trẻ về nhận thức sẽ giúp giáo viên hiểu rõ hơn về kiến thức, kỹ năng, thái độ của trẻ lớp mình về hoạt động khám phá khoa học. Từ đó giáo viên sẽ tìm tòi, hệ thống hóa và sáng tạo các trò chơi, các hình thức tổ chức khám phá khoa học cho trẻ phù hợp với độ tuổi và nhận thức của trẻ tại lớp mình và đó là việc làm vô cùng quan trọng ở đầu năm học. Qua việc theo dõi các hoạt động trong ngày của trẻ, cùng với việc tổ chức cho trẻ tham gia một số hoạt động trải nghiệm khám phá khoa học để đánh giá trẻ tại lớp bao gồm các tiêu chí: Khả năng so sánh, khả năng phân loại, khả năng giao tiếp, khả năng phán đoán, khả năng suy luận, khả năng làm thí nghiệm. Qua các tiêu chí đánh giá trẻ đầu năm học bản thân nhận thấy các trẻ trong lớp về các mặt tiêu chí không đồng đều: Khả năng phán đoán, suy luận và làm thí nghiệm của trẻ còn nhiều hạn chế. Cụ thể như sau: CÁC TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ TRẺ ĐẦU NĂM Khả năng Khả năng Khả năng Khả năng Khả năng Khả năng phán làm thí so sánh phân loại giao tiếp suy luận đoán nghiệm Đ CĐ Đ CĐ Đ CĐ Đ CĐ Đ CĐ Đ CĐ Tổng số: 19 15 18 16 19 15 15 19 17 17 16 18 34 trẻ Tỷ lệ % 56 44 53 47 56 44 44 56 50 50 47 53 Biện pháp 2: Môi trường giáo dục Trẻ mầm non nói chung và đặc biệt là trẻ 5- 6 tuổi nói riêng, môi trường học tập có vị trí to lớn trong việc nhận thức của trẻ, vì môi trường học tập là nơi để trẻ tiếp xúc hằng ngày, hàng giờ trong các hoạt động học và vui chơi của trẻ.
  3. Vì thế tôi đã xây dựng môi trường lớp học theo hướng mở, sắp xếp đồ dùng đồ chơi khoa học và thẩm mĩ, bố trí các góc chơi động tĩnh xen kẽ, tạo cho trẻ hứng thú, thích tò mò, thích tìm hiểu khám phá thế giới xung quanh, từ đó giúp trẻ học tốt hơn. Để trẻ nhớ lâu và nắm chắc kiến thức trong lớp học tôi trang trí đầy đủ các góc như: Góc chủ đề (thay đổi theo từng tháng, ở góc này tôi chuẩn bị tranh ảnh phù hợp chủ đề đang dạy cung cấp kiến thức cho trẻ qua tranh ảnh). Góc học tập (có nhiều đồ dùng như: hộp làm quen với toán, thẻ lô tô các chủ đề, thẻ số, thẻ chữ, tranh, vật thật và hình ảnh theo từng chủ đề cho trẻ hoạt động). Góc nghệ thuật (trẻ thực hiện tô, vẽ, nặn, xếp hột hạt, cắt, xé, dán những gì mà trẻ đã học được).
  4. Góc xây dựng (trẻ xây những công trình phù hợp với từng chủ đề và khơi dậy những ý tưởng của trẻ khi xây dựng: Trường mầm non, gia đình, công viên, vườn cây nhà bé, doanh trại bộ đội ).
  5. Góc phân vai (trẻ đóng vai người bán hàng, người mua hàng và nhiều đồ chơi theo từng chủ đề để trẻ trải nghiệm tăng vốn sống cho trẻ), bên cạnh đó có nhiều góc mở để cho trẻ hoạt động như góc kỹ năng của bé, góc kể chuyện, góc trò chơi dân gian.
  6. và đặc biệt ở góc thiên nhiên là góc dành riêng cho trẻ để khám phá thế giới xung quanh, góc này tôi trồng rất nhiều cây xanh, bố trí nhiều bình nước, chai nhựa để khi trẻ tham gia hoạt động trẻ vừa được chăm sóc cây, được chơi đong nước
  7. Ngoài ra việc đưa trẻ ra với thiên nhiên không những có tác dụng giúp trẻ khám phá môi trường bên ngoài hiệu quả mà còn có một số tác dụng: Ra ngoài trời trẻ được tắm nắng, hít thở không khí trong lành, thoáng mát, được vận động trong điều kiện rộng rãi, thoải mái, làm tăng sự hoạt động của các cơ quan trong cơ thể, rèn luyện sự thích nghi với tác động của các yếu tố tự nhiên, tăng cường sức đề kháng của cơ thể. Giúp trẻ mở rộng thêm tầm hiểu biết về sự vật hiện tượng xung quanh, làm giàu xúc cảm thẩm mỹ, trẻ được mở rộng diện tích tiếp xúc, được trực tiếp quan sát tiếp xúc các sự vật hiện tượng sống động trước mắt làm phong phú trí tưởng tượng và giúp trẻ cảm nhận được vẻ đẹp của môi trường xung quanh. Tạo điều kiện để trẻ vận dụng những hiểu biết, kiến thức, kỹ năng đã học vào hoàn cảnh thực tiễn. Vì vậy việc lựa chọn môi trường sao cho phù hợp với trẻ là rất quan trọng
  8. Tôi luôn tìm chọn những địa điểm phù hợp và thoáng mát (sân trường, vườn hoa và khu nhà chồi với các trò chơi dân gian và văn hóa địa phương. ) Trên cơ sở đó đặt ra tình huống gây bất ngờ để lôi cuốn sự chú ý cho trẻ bằng cách trong quá trình dạo chơi tôi cùng trẻ nhìn lên những tán cây, những lá cờ bay, những đám mây trên bầu trời “tại sao những tán cây và lá cờ di chuyển được? nhờ vào gì? tại sao mây không có chân mà mây biết đi?. Khi đó trẻ sẽ tò mò và cùng xúm xít lại cùng hướng mắt lên bầu trời tìm hiểu để tìm ra câu trả lời, tôi đã có một môi trường học tập thật sự gây hứng thú cho trẻ. Trong quá trình quan sát môi trường, tôi dùng biện pháp đàm thoại, tạo tình huống có vấn đề để trẻ tự giải quyết.
  9. Ví dụ: Quan sát cây bị héo. Cô hỏi: Tại sao cây bị héo? Cây sống được là do đâu? Muốn cây xanh tốt chúng ta phải làm gì? Chính những câu hỏi, lời dẫn dắt của giáo viên dần hình thành ở trẻ ý thức về bảo vệ cây xanh. Tóm lại môi trường hoạt động không nhất thiết phải ở một nơi nào đó nhất định mà là môi trường hoạt động mọi lúc, mọi nơi, cho trẻ khám phá và nhận ra những nét đặc trưng của vật sống, đồ vật và những hiện tượng quan sát bằng cách sử dụng tất cả các giác quan một cách thích hợp. Để chuẩn bị tốt cho bài dạy của mình, tôi đã làm tốt việc chuẩn bị đồ dùng, đồ chơi đa dạng, phong phú, an toàn, phù hợp, bố trí thời gian chơi và không gian chơi hợp lý. Biện pháp 3: Sử dụng đồ dùng trực quan Phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan để cho trẻ khám phá hoa học là phương pháp phổ biến, vì đây là phương pháp giúp trẻ tiếp thu kiến thức khoa học một cách dễ dàng. Thông qua những bài học bổ ích trên các chương trình thiếu nhi, hoặc các bài giảng điện tử có ứng dụng công nghệ thông tin cần có màu sắc sinh động và đẹp mắt để trẻ dễ dàng tiếp thu và ghi nhớ. Đồ dùng trực quan phải đảm bảo về mặt thẩm mĩ, tính chính xác và sự sáng tạo nhằm kích thích trí tò mò, ham hiểu biết của trẻ. Ví dụ: Thông qua đoạn video tôi yêu Việt Nam trẻ biết được khi tham gia các loại phương tiện giao thông phải biết ngồi ngoan, không thò đầu, thò tay qua cửa sổ hoặc không được ngịch nước.
  10. Ví dụ: Trong hoạt động “tìm hiểu sự nảy mầm của cây” ngoài trao đổi trò chuyện qua tranh ảnh hay vật thật thì cô cần sử dụng một đoạn video về quá trình nảy mầm của cây để trẻ thấy và hiểu rõ hơn, trẻ sẽ tiếp thu kiến thức nhanh hơn là chỉ nói qua tranh ảnh. Trẻ mẫu giáo có sự tưởng tượng chưa phong phú, kinh nghiệm sống của trẻ còn ít nên cô phải thường xuyên tận dụng các vật thật để dạy trẻ. Khi cho trẻ được tiếp xúc trực tiếp với vật thật trẻ sẽ thấy hấp dẫn và sinh động hơn. Với việc sử dụng đồ dùng trực quan thế nào để vừa hiệu quả và vừa phát triển khả năng nhận thức của trẻ thì với các môn nghiêng về môi trường xã hội thì tôi cho trẻ xem video hoặc tranh ảnh để dạy trẻ, còn với các bài học về đồ dùng dụng cụ hay hoa lá thì tôi cho trẻ xem vật thật, để trẻ được cảm nhận về chất liệu, công dụng, sự khác nhau và giống nhau của đồ vật đó. Và khi sử dụng vật thật thì tôi luôn lựa chọn những đồ vật có hình dạng đẹp, sạch sẽ, có màu sắc rõ ràng, có kích thước vừa phải, an toàn với trẻ, không chọn những vật sắc nhọn,
  11. Ví dụ: Với đề tài một số loài hoa thì tôi lựa chọn những bông hoa tươi hoa thật, gần gũi trẻ để trẻ được khám phá về: màu sắc, hình dạng, hương thơm, (mời trẻ trình bày về bông hoa về bông hoa có màu gì, cánh hoa có hình dạng gì, hoa dùng để làm gì? Hoa có mùi thơm như thế nào?, Việc sử dụng màn hình ti vi cũng là một hình thức trực quan yêu cầu giáo viên phải có sự lựa chọn kiến thức để cung cấp cho trẻ chính xác và thiết thực với lứa tuổi của trẻ giúp trẻ nắm bắt kiến thức dễ dàng và ghi nhớ lâu hơn. Biện pháp 4: Lồng ghép vào các hoạt động Với đặc điểm tâm lý của trẻ lứa tuổi mầm non “Trẻ học mà chơi, chơi mà học”. Trẻ 5- 6 tuổi tư duy của trẻ là tư duy trực quan hành động, trẻ tri giác dưới đồ vật, sự vật qua các hình ảnh, vật thật dưới nhiều hình thức khác nhau trẻ sẽ hứng thú học tập và tiếp thu bài học tốt hơn từ đó trẻ sẽ không nhàm chán. Nhất là hoạt động học khám phá khoa học thì yêu cầu cần chuẩn bị tốt các điều kiện như đồ dùng dạy học, đồ chơi và không gian rộng rãi cho trẻ thực hành và trải nghiệm nhiều. Xuất phát từ tình hình trên tôi luôn luôn đặt ra cho mình phải luôn đổi mới các hình thức tổ chức và các thủ thuật khác nhau khi cho trẻ làm quen với hoạt động khám phá khoa học. Như với bài cho trẻ quan sát các con vật, các cây, các loại hoa quả thì tôi có thể chuẩn bị bằng vật thật hoặc tranh ảnh và tổ chức dưới các dạng trò chơi để trẻ vừa chơi vừa quan sát tri giác các sự vật hiện tượng một cách tôt nhất. Việc cho trẻ hành động với đối tượng sẽ giúp trẻ cảm thấy thoải mái, thích thú, kích thích được tính tò mò ham hiểu biết ở trẻ từ đó trẻ sẽ dễ dàng nắm bắt được những kiến thức mà cô truyền đạt. Khi cho trẻ khám phá các đối tượng cô không nên đưa luôn ra ngay đối tượng đó vì nó sẽ mang tính chất khô cứng, dập khuôn, máy móc, không tạo
  12. được sự hấp dẫn cho trẻ mà cô cần đưa ra những tình huống có vấn đề, những hình thức sinh động, sáng tạo để lôi cuốn sự tập trung, chú ý, khơi dậy trí tò mò, khám phá của trẻ. Việc lựa chọn những hình thức để đưa vào trong phần giới thiệu bài phải phù hợp với nội dung dạy, sao cho sinh động, hấp dẫn với trẻ. Những hình thức giới thiệu bài phải luôn thay đổi trong các tiết học để cho trẻ khỏi bị nhàm chán. Hoạt động học: Với tiết học khám phá đòi hỏi trẻ có sự tập trung cao, nên thời gian dành cho tiết học kéo dài hơn tiết học khác khoảng 4-5 phút. Bởi tiết học phám phá mang đến nhiều điều bất ngờ mà chính cô và trẻ đều hứng thú. Tiết học khám phá không giống như các tiết học khác : tiết tạo hình đòi hỏi sự khéo léo của đôi bàn tay, hay phải tính toán như môn làm quen với toán,hay phải có năng khiếu ca hát như môn âm nhạc, mà khám phá là hướng cho tất cả các bé cùng đến với những trải nghiệm Ví dụ: Hoạt động khám phá khoa học: Đề tài “khám phá các loài hoa” – Để tạo hứng thú cho trẻ cô cho trẻ đi hội chợ hoa. Và chọn những bông hoa mình thích. Cho từng nhóm thảo luận về hoa của nhóm mình, sau đó lên trình bày (tên hoa, màu sắc, hình dạng, mùi thơm, công dụng, ) các nhóm khác sẽ đặt câu hỏi cho các bạn trả lời + Cô đặt ra câu hỏi: Muốn có được những bông hoa xinh đẹp này thì chúng ta phải làm gì? Cây phát triển tốt nhờ đâu? Hoạt động ngoài trời Hoạt động ngoài trời có ý nghĩa rất lớn đối với sự khám phá thế giới xung quanh trẻ. Ra ngoài trời trẻ được tiếp xúc với các hiện tượng tự nhiên: không
  13. khí, ánh nắng mặt trời, nước những yếu tố này con người không thể tạo ra. Bên cạnh đó, ngoài trời có khoảng không gian rộng thích hợp với việc tất cả trẻ được tham gia
  14. Ví dụ: Hoạt động khám phá khoa học: Đề tài “Không khí xung quanh chúng ta”. Thí nghiệm cho không khí vào túi ni lông - Bước 1: Lấy túi ni lông mềm mỏng không thủng, rách - Hỏi trẻ: chúng ta sẽ làm gì để lấy không khí vào túi? (trẻ trãi nghiệm tự do) + Trẻ thì thổi, trẻ thì hứng gió, trẻ thì bóc + Cô thực hành trẻ quan sát ( căng rộng miệng túi để lấy không khí – nhanh tay xoắn chặt miệng túi – túi ni lông căng phồng.) + Trong túi ni lông có gì?  Cô khái quát lại: không khí có ở tất cả mọi nơi xung quanh chúng ta Hoạt động vui chơi Trẻ tham gia hoạt động góc như được hóa thân thành người lớn, đóng vai mình thích, mỗi góc chơi với số lượng trẻ vừa phải, có không gian riêng cho từng góc. Góc khám phá khoa học có không gian và diện tích phù hợp với số lượng trẻ dành cho các thí nghiệm cần có sự tập trung cao, quan sát tỉ mỉ và ghi nhớ có chủ định. Trong giờ chơi tôi tổ chức cho trẻ tham gia chơi tự do để trẻ khám khá và tìm hiểu sự vật, hiện tượng xung quanh. Như chơi với cát, sỏi, khi cho trẻ chơi với cát, sỏi, và nước luôn mong muốn mang đến cơ hội cho trẻ sử dụng các
  15. giác quan để khám phá thế giới tự nhiên. Chơi với cát, sỏi và nước kích thích sự phát triển của đôi bàn tay dẫn đến phát triển cân bằng của não và tăng khả năng tư duy logic sáng tạo cho trẻ. Trẻ có thể viết chữ cái, chữ số trên cát, làm bánh, xây lâu đài Chơi với nước trẻ biết cách pha màu, lọc nước, đong nước, vật chìm, vật nổi trong nước
  16. Ví dụ: góc khám phá khoa học cho trẻ thực hành với nước để biết “sự kì diệu của nước” Thí nghiện: sự đổi màu của nước -Cô chuẩn bị 2 cóc nước, 1 cóc nước đổ màu đỏ vào khuấy đều - Các con thấy hiện tượng gì? - Vì sao cóc nước đổi màu được? - Cô khái quát: Do nước không màu không mùi nên khi đổ màu khác vào thì nước sẽ chuyển từ không màu sang có màu. Thí nghiệm: Sự hòa tan - Cô chuẩn bị 3 cóc nước, đường, cát, sỏi - Cô cho lần lượt vào 3 cóc nước sau đó khuấy đều - Các con nhìn thấy gì? - Cô khái quát: Nước hòa tan được một số chất và không hoà tan được một số chất Làm cái máy phun cây. - Mục đích: - Trẻ gọi tên và nhận biết được một số đặc điểm đặc trưng và công dụng của máy phun cây, bình xịt nước hoa. - Trẻ hiểu được: khi bơm (thổi) không khí qua một ống dẫn trên thì sẽ tạo ra 2 luồng không khí vừa hút và vừa đẩy nước ra. - Chuẩn bị: 2 ống nhựa, 1 cốc nước - Tiến hành: Bước 1: - Cho trẻ xem bình phun nước cho cây và bình xịt nước hoa. Thử cho trẻ xịt nước, cho trẻ thử đưa ra giả thuyết để giải thích hiện tượng. Bước 2: Cô hướng dẫn trẻ cách làm một cái máy phun cây. - Đặt một ống đứng thẳng trong ly nước, ống phải cao hơn ly một ít. - Để ống thứ 2 thẳng góc với ống kia (như hình vẽ). - Thổi vào ống thứ 2 và nhìn vào mực nước trong ống kia. Nếu thổi nhẹ sẽ thấy nước lên ít. Nếu thổi mạnh, nước sẽ lên đầu ống và làm thành một tia bụi nước. Bước 3: - Cô cho trẻ lên chơi thử * Giải thích: Không khí chuyển động khi thổi qua đầu ống nhựa sẽ chia thành các luồng không khí, vừa tạo ra sức hút nước lên trên ống nhựa, vừa tạo thành luồng không khí đẩy nước về phía trước. Máy phun cây và bình xịt nước hoa cũng nhờ các lực từ tay bóp không khí vào để phun nước ra. Mọi lúc mọi nơi: Không chỉ dừng lại ở việc cho trẻ khám phá những sự vật, hiện tượng xung quanh cuộc sống bằng những phương pháp thực hiện trên tiết học mà tôi tận dụng tất cả các hình thức cho trẻ khám phá mọi lúc mọi nơi như giờ chơi ở các góc, hoạt động ngoài trời, giờ ăn, giờ ngủ mà tôi cảm thấy hợp lý để giúp
  17. trẻ khắc sâu hơn, nhớ lâu hơn các sự vật hiện tượng mà trẻ chưa được khám phá và trải nghiệm. Ví dụ 1: Khi trẻ tham quan và quan sát vườn rau của chú bảo vệ trồng, trẻ được trực tiếp nhìn thấy các loại rau, qua đó trẻ biết được đặc điểm của một số loại rau có ở trong vườn rau ở trường, vai trò của các loại rau trong các bữa ăn hằng ngày ở trường, ở nhà của trẻ, trẻ được giáo dục vệ sinh trong ăn uống. Lồng ghép tích hợp các môn học khác: Các hoạt động học đều liên quan đến nhau, hỗ trợ lẫn nhau. Hoạt động thể dục, tạo hình, âm nhạc, làm quen với toán, khám phá khoa học, làm quen văn học, làm quen chữ cái, hoạt động vui chơi Các hoạt động này được lồng ghép hoặc chuyển sang hoạt động khác một cách tự nhiên khéo léo trẻ sẽ không nhàm chán. Hoạt động thể dục giờ học để rèn luyện thân thể khỏe mạnh, củng cố tố chất nhanh, khéo, luyện tập cho bé khả năng phản ứng nhanh đóng một vai trò cần thiết trong sự phát triển toàn diện. Giúp trẻ phát triển thể chất tốt là trẻ luôn thấy vui vẻ, tinh thần sảng khoái khi tham gia các hoạt động hàng ngày. Qua hoạt động khám phá khoa học trẻ được nhìn thấy vật thật, hình ảnh, tự tay sờ, ném, ngửi và làm thí nghiệm Khi tham gia vào hoạt động tạo hình thì trẻ sẽ nhớ lại kiến thức mà mình được khám phá và hình thành ở trẻ những cơ sở ban đầu về hoạt động học tập, trong các hoạt động vẽ, nặn, xé, dán giúp trẻ phát triển các chức năng tâm lý, khả năng tri giác các sự vật hiện tượng xung quanh, từ đó phát triển tư duy và quá trình đó làm phát triển trí tưởng tượng và ham muốn tạo ra cái đẹp, sẽ góp phần không nhỏ vào việc nâng cao chất lượng giáo dục. Ví dụ: Học qua chơi sẽ giúp trẻ tham gia vào việc tổ chức, đưa ra quyết định lựa chọn, thực hành, duy trì và bày tỏ cảm xúc. Chơi có tổ chức sẽ giúp phát triển và mở rộng sức sáng tạo, các kỹ năng nghe và nói, các kỹ năng xã hội và tính cách, khả năng sử dụng ngôn ngữ đa dạng liên quan đến nhiều lĩnh vực như toán, môi trường. Một lần nữa, các cô giáo chính là người tạo điều kiện để trẻ chơi như là một phần của quá trình học của mình. Học qua công nghệ thông tin: Nên tạo cho trẻ có cơ hội để làm quen, ứng dụng và phát triển các khả năng về công nghệ thông tin thông qua việc sử dụng các công cụ tin học trong quá trình học tập. Từ đây, trẻ có cơ hội để hỗ trợ các công việc của mình bằng cách tự tìm kiếm thông tin, được học cách sử dụng thông tin từ nhiều nguồn khác nhau, tự lựa chọn và tổng hợp các thông tin để đáp ứng nhu cầu của mình. Công nghệ thông tin có thể được sử dụng và ứng dụng như là công cụ hướng dẫn và công cụ thúc đẩy, kích thích quá trình học của trẻ. Thông qua việc ứng dụng công nghệ thông tin, trẻ sẽ được khám phá các ý tưởng, khái niệm, câu hỏi khác nhau, việc ứng dụng công nghệ thông tin trẻ sẽ được tương tác với chữ viết, với những âm thanh, hình ảnh sống động. Các hoạt động sử dụng máy tính và phần mềm luôn được gắn với phần hướng dẫn của giáo viên trên lớp cũng như gắn với thế mạnh và nhu cầu của trẻ.
  18. Được khám phá là để trẻ hình thành tính độc lập tư duy, tìm tòi, sáng tạo và quyết đoán trong việc giải quyết những tình huống được khám phá cụ thể. Trẻ được tham gia và phát triển niềm say mê, hứng thú một cách tích cực với nhiều hoạt động kết hợp khác nhau như giải quyết những thắc mắc trong tình huống cụ thể mà mình tham gia, mối quan hệ trong và ngoài nhóm, giải quyết những vướng mắc, vượt qua những thách thức, trở ngại để hoàn thành nhiệm vụ, tìm ra những điều mình cần khám phá. Được hỏi ngay điều mình thấy là tạo và hình thành cho trẻ tính độc lập, chủ động trong tư duy logic. Mở cánh cửa đầu tiên cho trẻ làm quen với thế giới xung quanh rộng lớn, tạo lập trí sáng tạo, sự hóm hỉnh qua những câu hỏi theo tư duy của trẻ và được giáo viên trả lời hoặc gợi mở để trẻ tự tìm ra câu trả lời. Điều này sẽ tạo cho trẻ sự tìm tòi và sáng tạo không ngừng, giúp cho trẻ có tính năng động, vượt khó cho suốt cuộc đời sau này của trẻ. Tích hợp các môn học như: Làm quen ăn học, toán, tạo hình, âm nhạc, thể dục tôi thấy có những kết quả đáng lưu ý, tất cả các trẻ khi tham gia học ngoài trời trẻ đều thực hiện rất tốt và có phần sáng tạo trong đó. Ví dụ: Cô nói con thực hiện tiếng gà gáy trẻ “ò ó o ” và làm thêm động tác vỗ cánh rất giống con gà hoặc khi trẻ quan sát vườn hoa ta có thể yêu cầu trẻ vẽ lại, làm con vật từ lá cây, hay so sánh cây nào cao hơn, thấp hơn, tập kể lại những gì mình thấy. Biện pháp 5: Phối hợp với phụ huynh Để nâng cao chất lượng hiệu quả học tập của trẻ trong trường mầm non, rất cần sự phối hợp giáo dục toàn bộ giữa gia đình và nhà trường. Vì thế ngay từ đầu năm học các cô đã chủ động trao đổi trực tiếp với phụ huynh
  19. thông qua buổi họp phụ huynh đầu năm để trao đổi về một số hoạt động giúp trẻ nhận thức khám phá môi trường xung quanh, Từ những vật dụng không dùng như bìa catông, đến kinh phí hỗ trợ mua ti vi cho lớp để tạo điều kiện cho các trẻ được trải nghiệm với công nghệ không còn học thô như trước mà có những hình ảnh trực quan sinh động và hấp dẫn trẻ, lôi cuốn trẻ tham gia hoạt động tích cực. Trao đổi với phụ huynh về tầm quan trọng cho trẻ khám phá thế giới xung quanh bằng những vật thật thông qua hoạt động thực tiễn hàng ngày góp phần khắc sâu ghi nhớ của trẻ đồng thời cung cấp những kỹ năng cần thiết cho trẻ áp dụng vào thực tiễn hàng ngày. Việc kết hợp giáo dục trẻ giữa cô và phụ huynh rất cần thiết sẽ giúp trẻ được luyện tập nhiề hơn, trãi nghiệm nhiều hơn từ đó trẻ có được vốn kiến thức về thiên nhiên, về cách chăm sóc con vật gần gũi Ví dụ: Qua hoạt động “tìm hiểu về sự nảy mầm của cây” ở lớp thì trẻ sẽ biết được cây muốn nảy mầm cần có nước và ánh sáng. Khi về nhà thấy ba mẹ trồng cây hay ươm giống thì trẻ sẽ biết muốn cây nảy mầm phải cần nước và đủ ánh sáng cây sẽ phát triển. Các biện pháp các cô trình bày phải có vị dụ cụ thể từng biện pháp. c) Hiệu quả mang lại Trẻ chủ động tham gia vào các hoạt động khám phá, điều đáng nói ở đây trẻ thường xuyên trao đổi thảo luận cùng nhau, đưa các câu hỏi đố nhau khi bắt gặp một hiện tượng lạ hoặc một đối tượng nào đó. Trẻ hoàn toàn chủ động trong các buổi thực hành, trải nghiệm và là một thành viên tuyên truyền đến gia đình trong việc ăn uống hợp vệ sinh, bảo vệ môi trường và thực hiện tốt luật an toàn giao thông Trẻ có thái độ đúng đắn với các sự vật và môi trường sống xung quanh trẻ. Thể hiện ở bảng khảo sát trước và sau áp dụng một số biện pháp, cụ thể như sau: Bảng kết quả khảo sát Trước khi áp Sau khi áp dụng dụng Kết quả Số Số Nội dung khảo sát Tỉ lệ Tỉ lệ thu được lượng lượng (%) (%) trẻ trẻ Khả năng so sánh 19 55 31 91 Đạt Khả năng phân loại 18 52 30 88 Đạt Khả năng giao tiếp 19 55 32 94 Đạt Khả năng phán đoán 15 44 31 91 Đạt
  20. Khả năng suy luận 17 50 30 88 Đạt Khả năng làm thí 16 47 31 91 Đạt nghiệm Khả năng giao tiếp, so sánh, phán đoán, suy luận và làm thí nghiệm của trẻ được tăng lên, trẻ nói rõ lời và đủ câu, trẻ tích cực hơn khi tham gia vào hoạt động học, biết tự làm thí nghiệm, tự đặt ra câu hỏi và lý giải các hiện tượng xảy ra theo suy nghĩ của trẻ và tích cực tham gia vào hoạt động nhóm. Tuy vậy cũng còn một số trẻ cũng chưa đạt về các tiêu chí./.