Bài giảng Chuyên đề Một số vấn đề chung về Giáo dục kỷ luật tích cực
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Bài giảng Chuyên đề Một số vấn đề chung về Giáo dục kỷ luật tích cực", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
bai_giang_chuyen_de_mot_so_van_de_chung_ve_giao_duc_ky_luat.ppt
Nội dung tài liệu: Bài giảng Chuyên đề Một số vấn đề chung về Giáo dục kỷ luật tích cực
- CHUYÊN ĐỀ 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ GIÁO DỤC KỶ LUẬT TÍCH CỰC
- MỤC TIÊU Sau chuyên đề này, học viên cần: 1. Hiểu khái niệm về giáo dục KLTC 2. Phân tích được sự cần thiết phải sử dụng phương pháp giáo dục KLTC trong các trường THPT. 3. Trình bày được các yêu cầu đối với GV và những định hướng cơ bản trong việc thực hiện PP giáo dục KLTC ở trường THPT. 4. Thay đổi quan niệm về kỷ luật đối với HS, tích cực sử dụng các biện pháp KLTC trong quá trình dạy học/giáo dục.
- NỘI DUNG BÀI HỌC I. Khái niệm giáo dục kỉ luật tích cực II. Sự cần thiết phải sử dụng phương pháp giáo dục kỉ luật tích cực trong trường THPT III. Các yêu cầu đối với giáo viên trong việc thực hiện giáo dục KLTC IV. Một số định hướng cơ bản trong việc áp dụng các biện pháp giáo dục KLTC.
- I. KHÁI NIỆM GIÁO DỤC KLTC Hoạt động 1. Thảo luận cả lớp: Giáo dục kỉ luật tích cực là gì?
- I. KHÁI NIỆM GIÁO DỤC KLTC Giáo dục kỷ luật tích cực là cách GD dựa trên nguyên tắc: Ø Vì lợi ích tốt nhất của HS; Ø Không làm tổn thương đến thể xác và tinh thần của HS; Ø Có sự thỏa thuận giữa GV- HS Ø Phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của HS. Ø Phát huy tính tự giác tuân theo các quy định và quy tắc đạo đức ở thời điểm trước mắt cũng như về lâu dài. Ø (5 T: Tốt nhất cho HS, Tổn thương không làm,Thỏa thuận,Tâm sinh lí, Tự giác)
- Mục tiêu của giáo dục KLTC là dạy HS tự hiểu hành vi của mình, có trách nhiệm đối với sự lựa chọn của mình, biết tôn trọng mình và tôn trọng người khác. Nói cách khác giúp HS phát triển tư duy và có các hành vi tích cực có thể ảnh hưởng lâu dài đến cả cuộc đời sau này.
- II. SỰ CẦN THIẾT PHẢI SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC KLTC TRONG TRƯỜNG THPT 1. Đặc điểm tâm – sinh lý học sinh THPT Hoạt động 2. Thảo luận nhóm: § Phân tích đặc điểm tâm sinh lí của HS THPT? § Nêu kinh nghiệm của thầy/cô trong việc hỗ trợ các em phát triển phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí HS THPT.
- I. ĐĂC ĐIỂM TÂM SINH LÍ CỦA HOC SINH THPT 11tuổi . 18 tuổi Đặc điểm TSL Sự thay đổi Sự thay đổi Thay đổi về xúc Thay đổi trong các về thể chất về nhận thức cảm, tình cảm mối QH xã hội
- 1. Đặc điểm tâm – sinh lý học sinh THPT 1.1. Về phát triển thể chất Cơ thể của các em đã đạt tới mức phát triển của người trưởng thành, nhưng chưa hoàn thiện so với người lớn. Tư duy ngôn ngữ và những phẩm chất ý chí có điều kiện phát triển mạnh. Ở tuổi này, các em dễ bị kích động, thích thể hiện là người lớn.
- 1.1. Sự thay đổi về thể chất Đầu VTN : - Bắt đầu dậy thì. Hệ tim mạch - Tăng trưởng nhanh về thể chất Hệ thần kinh - Bắt đầu có sự chuyển hóa về tính dục (ngực và bộ phận sinh dục phát triển, mu và các bộ phận khác của cơ thể xuất hiện sự mọc lông). Giữa VTN : Phát triển thể chất bắt đầu chậm lại Cuối VTN: - Hầu hết nữ giới đã phát triển hoàn thiện. - Nhiều nam giới tiếp tục phát triển cơ bắp và Hệmọ xươngc cơ Tuyến nội tiết lông trên người.
- 1.2. Về phát triển trí tuệ - Hệ thần kinh phát triển mạnh . Khả năng quan sát phát triển, tuy nhiên sự quan sát thường phân tán, chưa tập trung cao . - Hoạt động tư duy phát triển mạnh. Năng lực tư duy phát triển đã góp phần nảy sinh hiện tượng tâm lý mới đó là tính hoài nghi khoa học. - Thích những vấn đề mang tính triết lý. Các em có khả năng phán đoán và giải quyết vấn đề một cách nhạy bén. Tuy nhiên đôi khi kết luận còn vội vàng theo cảm tính.
- 1.3. Về phát triển nhân cách v Sự tự ý thức Là một đặc điểm nổi bật trong sự phát triển nhân cách của HS THPT. Biểu hiện của sự tự ý thức là nhu cầu tìm hiểu và tự đánh giá những đặc điểm tâm lý của mình theo chuẩn mực đạo đức của xã hội. Các em có khuynh hướng phân tích và đánh giá bản thân mình một cách độc lập mang tính chủ quan. Ý thức làm người lớn khiến các em thích khẳng định mình, muốn thể hiện cá tính của mình một cách độc đáo, muốn người khác quan tâm, chú ý đến mình Chúng ta cần lắng nghe ý kiến, giúp các em nhìn nhận khách quan về nhân cách của mình, tự nhận thức và xác định được giá trị, xác định được điểm mạnh, điểm yếu để tự điều chỉnh hoàn thiện bản thân, tránh những suy nghĩ lệch lạc, phiến diện hoặc là quá ảo tưởng hoặc quá tự ty dẫn đến các biểu hiện hành vi không tích cực .
- v Sự hình thành thế giới quan Ø Các em có nhu cầu tìm hiểu khám phá về tự nhiên, xã hội, về các nguyên tắc và quy tắc ứng xử, những định hướng giá trị về con người. Ø Các em quan tâm đến nhiều vấn đề như: thói quen đạo đức, cái xấu, cái đẹp, cái thiện, cái ác, quan hệ giữa cá nhân với tập thể, giữa cống hiến với hưởng thụ, giữa quyền lợi và nghĩa vụ trách nhiệm Ø Tuy nhiên nhiều HS ở độ tuổi này có tư tưởng không lành mạnh như: coi thường phụ nữ, coi khinh lao động chân tay, ý thức tổ chức kỉ luật kém, thích hưởng thụ hoặc thụ động, dựa dẫm vào người khác Những học sinh này dễ trở thành học sinh “cá biệt” trong lớp. GV phải khéo léo, tế nhị khi phê phán những biểu hiện tư tưởng qua thái độ hành vi chưa đúng đắn của HS giúp các em thay đổi nhận thức, điều chỉnh thái độ hành vi của mình. GV cần tìm hiểu hoàn cảnh, tâm tư tình cảm, suy nghĩ của HS, nguyên nhân của những hành vi không tích cực để giúp các em phát triển đúng hướng.
- v Hoạt động giao tiếp Ø Nhu cầu sống tự lập, có nhu cầu giao tiếp với bạn bè cùng lứa tuổi trong tập thể. Thích được giao lưu, thích tham gia các hoạt động tập thể. Ø Tình bạn đối với các em ở tuổi này có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Ø Tình yêu nam nữ bắt đầu nảy nở. Tuy nhiên tình cảm này chưa được phân định rõ giữa tình yêu và tình bạn. Do vậy, cảm xúc của các em trong giai đoạn này rất phức tạp “thoáng vui”, “thoắt buồn” nên rất dễ ảnh hưởng đến học tập, nhiều em không làm chủ được bản thân dẫn đến học hành sa sút. Tình yêu ở lứa tuổi này nhìn chung là lành mạnh, trong sáng nhưng cũng là một vấn đề rất phức tạp ảnh hưởng đến việc học tập của HS. GV cần hết sức bình tĩnh coi đây là sự phát triển bình thường và tất yếu trong sự phát triển của con người, tế nhị, khéo léo không nên can thiệp một cách thô bạo làm tổn thương đến tình cảm và lòng tự trọng của các em.
- 2. Thực trạng các biện pháp trừng phạt thân thể và xúc phạm tinh thần của học sinh trong các trường THPT – nguyên nhân và hậu quả Hoạt động 3. Làm việc nhóm: Bước 1. Mỗi người trong nhóm hãy kể lại 1 trường hợp TPTTTE trong thực tiễn mà mình đã trải qua hoặc đã đọc, đã nghe hay đã chứng kiến Bước 2. Mỗi nhóm chọn 1 trường hợp điển hình nhất để chia sẻ trước lớp. +Việc đó xảy ra ở đâu? + Xảy ra như thế nào? + Việc đó đã để lại những hậu quả như thế nào đối với trẻ em? (về sức khoẻ, tính mạng, tâm lý, học tập, cuộc sống tương lai của trẻ)
- Ø Trừng phạt thân thể trẻ em là các hành vi, thái độ, lời nói do người lớn hoặc người có quyền gây ra nhằm giáo dục trẻ nhưng làm tổn thương các em về thể xác hoặc tinh thần. Ø Ở Việt Nam từ trước đến nay, việc sử dụng các biện pháp trừng phạt thân thể và xúc phạm tinh thần khi HS mắc lỗi vẫn diễn ra khá phổ biến với nhiều mức độ và hình thức khác nhau .
- Nguyên nhân của việc sử dụng các các biện pháp TPTT và xúc phạm tinh thần khi học sinh mắc lỗi Hoạt động 4. Thảo luận nhóm: Nêu các nguyên nhân của việc trừng phạt thân thể trẻ em ở Việt Nam.
- Nguyên nhân của việc sử dụng các các biện pháp TPTT và xúc phạm tinh thần khi học sinh mắc lỗi Ø Quan niệm sai lầm về giáo dục kỉ luật HS: Một bộ phận không nhỏ các thành viên trong xã hội còn chịu ảnh hưởng của tư tưởng phong kiến. Ø Nhận thức hạn chế của người lớn (thiếu hiểu biết về tâm sinh lí lứa tuổi). Ø Thiếu sự quan tâm, tình yêu thương đối với trẻ Ø GV thiếu phương pháp giáo dục trẻ phù hợp, thiếu kinh nghiệm trong giáo dục Ø GV vi phạm đạo đức nghề nghiệp Ø HS có khó khăn về học tập, khó khăn về điều kiện sống ..
- Hậu quả của việc TPTT và xúc phạm tinh thần HS Hoạt động 5: Trái tim bị tổn thương Chuyện của Hằng - Phát cho mỗi nhóm một hình trái tim - Đọc truyện - Phát giấy A4
- Hậu quả của việc TPTT và xúc phạm tinh thần HS Dù trái tim đã được dán lại, bề mặt trái tim vẫn còn những vết nứt. Mỗi khi ai đó bị tổn thương, dù là nhỏ nhất, thì người đó vẫn còn những vết hằn không thể nào xóa bỏ được. Do đó, cần hạn chế tối thiểu việc gây tổn thương cho người khác, đặc biệt đổi với trẻ em.

