Giáo án Ngữ văn 9 - Ôn tập
Bạn đang xem tài liệu "Giáo án Ngữ văn 9 - Ôn tập", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
giao_an_ngu_van_9_on_tap.doc
Nội dung tài liệu: Giáo án Ngữ văn 9 - Ôn tập
- ÔN TẬP NGỮ VĂN 9 – LẦN 3 A. PHẦN ĐỌC HIỂU: Đọc đoạn văn sau và thực hiện các yêu cầu: Con yêu của mẹ, ngày xưa, mẹ luôn ước ao nhà mình được ngập tràn trong ánh điện. Nhưng giờ đây, mẹ ước gì thỉnh thoảng con người ta quay lại với những buổi đêm, với ánh sáng lặng lẽ của những ngọn đèn dầu. Lúc đó, tất cả yêu thương được hội tụ dưới vầng sáng lẻ loi ấy. Quẳng đi một lo toan, con người lại học cách chuyện trò cùng nhau, kể chuyện cho nhau nghe, chơi những trò chơi bình dị dưới ánh sáng – món quà quý giá của loài người. Bây giờ, con có thấy ánh sáng của những vì sao ở ngoài kia không ? Hãy để những vì sao lang thang cùng con vào giấc ngủ. (Trích “Những ngôi sao trên bầu trời thành phố” – Nguyễn Phan Quế Mai) a. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính đoạn văn trên? b. Xác định thành phần phụ chú được sử dụng trong đoạn văn? c. Hãy giải thích ngắn gọn lí do người mẹ nhắn nhủ “Hãy để những vì sao lang thang cùng con vào giấc ngủ”? GỢI Ý: a. Phương thức biểu đạt chính của đoạn văn là: biểu cảm b. Thành phần phụ chú được sử dụng trong đoạn văn: Quẳng đi một lo toan, con người lại học cách chuyện trò cùng nhau, kể chuyện cho nhau nghe, chơi những trò chơi bình dị dưới ánh sáng – món quà quý giá của loài người. Thành phần phụ chú(đánh dấu) bổ sung ý nghĩa của từ “ánh sáng” c. Giải thích ngắn gọn lí do người mẹ nhắn nhủ “Hãy để những vì sao lang thang cùng con vào giấc ngủ”? - Bởi vì những vì sao chính là ánh sáng, là “món quà quý giá của loài người”. Nhờ ánh sáng, con người gần gũi nhau hơn, chuyện trò cùng nhau, kể chuyện cho nhau nghe, chơi những trò chơi bình dị với nhau. - Mẹ rất yêu thương con, muốn con có giấc ngủ tre thơ yên bình, đầy mơ mộng. B. LÀM VĂN – NGHỊ LUẬN VĂN HỌC: ĐỀ RA: Cảm nhận tám câu thơ tiếp của đoạn trích “ Kiều ở lầu Ngưng Bích” a. Mở bài: “Kiều ở lầu Ngưng Bích” là đoạn trích tiêu biểu trong kiệt tác “Truyện Kiều”, là tác phẩm lớn nhất của nền văn học Việt Nam, của đại thi hào dân tộc Nguyễn Du đã chinh phục trái tim bao thế hệ bạn đọc trong gần hai trăm năm qua. Trong tám câu thơ cuối của đoạn trích, từ nỗi nhớ người thân, Kiều nghĩ về thân phận mình với nỗi buồn đau, chua xót, lo sợ, hãi hùng. b. Thân bài: Ý 1: Khái quát: - Tám câu thơ với bốn cặp lục bát cân đối, haì hoa, trang trọng như một bộ tứ bình ngôn ngữ đã vẽ nên một cách chân thự, sống động, tinh vi bức tranh tâm trạng của Thuý Kiều trước lầu NB. - Nếu ở 14 câu thơ trước, nhà thơ tập diễn tả nội cô đơn, tụi nhục, bẽ bàng và nỗi nhớ người thân da diết của nàng Kiều thì đến tám câu thơ còn lại, nhà thơ hoá thân vào nhân
- vật TK đồng cảm với nỗi đau thân phận và những dự cảm chẳng lành về tương lai của người con gái bạc mệnh. - Điệp ngữ buồn trông được sử dụng liên tiếp như tạo nên những đợt sóng ngôn ngữ diễn tả những lớp sóng lòng cồn cào,những vang âm tê tái trong cõi lòng của TK khi nghĩ về cảnh ngộ của bản thân. Hàng loạt câu hỏi tu từ: “Thuyền ai xa xa?; Hoa trôi về đâu?” tạo nên âm điệu da diết, khắc khoải, tô đậm những dằng xé, buồn bã của nhân vật. ND sử dụng bút pháp tả cảnh ngụ tình, bức tranh thiên nhiên cảnh trước lầu Ngưng Bích đẹp nên thơ, gợi cảm như nhuốm một màu tâm trạng. Các hình ảnh thơ tương ứng với các cung bậc cảm xúc của nỗi lòng TK, cảnh và tình hoà điệu. Ý 2: 2 câu đầu: “Buồm trông .chiều hôm Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?” - H/ảnh của bể trong buổi chiều hôm thật mênh mông, vô tận, buồn hiu hắt; con thuyền nhỏ bé thấp thoáng xa xa trôi dạt vô định, không biết sẽ đi đâu về đâu?. bức tranh thiên nhiên hiện lên qua cái nhìn của TK trở nên đặc biệt, mang đầy nỗi niềm, những suy tư ấm ức. - Tác giả sử dụng bút pháp chấm phá ước lệ cổ điển gợi nhiều hơn tả, các h/ảnh thơ đều mang nghĩa ẩn dụ đầy hàm gợi. Trong văn học cổ điển, buổi chiều hôm chiều tàn luôn là một khoảng thời gian có tính ước lệ quen thuộc để chỉ sự tàn lụi, buồn bã. H/ảnh con thuyền nhỏ nhoi là biểu tượng cho kiếp người nhỏ bé, trôi nổi. Nhà thơ đặt hai h/ảnh biển và con thuyền trong thế đối lập nhằm diễn tả nỗi cô đơn, lẻ loi của người con gái bạc phận đang bơ vơ nơi đất khách quê người. Nàng bây giờ cũng như con thuyền kia vô phương vô hướng rồi sẽ không biết đi đâu về đâu?, tất cả con đường tương lai phía trước còn thăm thẳm, mờ mịt. Ý 3: 2câu tiếp: “Buồm trông .mới sa Hoa trôi man mác biết là về đâu?” - H/ảnh bức tranh thiên nhiên hiện lên buồn bã, vô tịch; h/ảnh những cánh hoa mỏng manh bị xô đẩy ở những ngọn nước mới sa, vô phương hướng là mộ ẩn dụ giàu ý nghĩa. Hoa là biểu tượng của cái đẹp, của cái thanh cao tượng trưng cho vẻ đẹp của người phụ nữ. Ca dao xưa có câu: “Giữa đường gặp cánh hoa rơi Hai tay nâng lấy, cũ người mới ta” Đưa h/ảnh hoa vào trang thơ phải chẳng ND muốn nhấn mạnh một nỗi đau xót cho kiếp hồng nhan bạc phận, cho cái tài cái đẹp bị vùi dập phũ phàng trong chế độ cũ thể hiện một sự đồng cảm sâu sắc với nỗi đau thân phận của nàng K. Là một cô gái thông minh, có ý thức cao và kiêu hãnh về giá trị của bản thân, K không buồn, không khổ, không đau sao được khi giờ đây nàng chẳng khác gì cánh hao lạc loài bị vùi dập trong bão lũ. - Câu hỏi tu từ: “Hoa trôi man mác biết là về đâu?” với từ để hỏi “về đâu” vang lên da diết, đó là tiếng nói của thân phận TK hay là tiếng lòng xót thương của ND với bi kịch của nhân vật. Ở đây tình và cảnh đã có sự hoà điệu, thống nhất. Ý 4: 2câu tiếp:
- “Buồm trông .rầu rầu Chân mây mặt đất một màu xanh xanh” - Nhà thơ sử dụng khéo léo các từ láy tượng hình “rầu rầu”, “ xanh xanh” gợi tả một khoảng không vắng lặng, buồn, cảnh vật tàn lụi, héo úa như mất hết sinh khí, sức sống. Biện pháp nghệ thuật nhân hoá “nội cỏ rầu rầu” khiến cho cỏ cây như cũng có tâm trạng, h/ảnh không gian bốn phía “Chân mây mặt đất” xung quanh nàng đều nhuộm một màu xanh ám ảnh phải chăng đó là màu biệt li. Trong “Chinh phụ ngâm khúc” ta cũng đã bắt gặp một màu xanh biệt li thế: “Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy Thấy xanh xanh những mây ngàn dâu Ngàn dâu xanh ngắt một màu Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?” - Qua bức tranh thiên nhiên cảnh vật, ND biểu đạt một cánh tinh vi diễn biến tâm trạng của TK. Nỗi buồn tha hương tràn ngập trong lòng nàng, nàng cảm thấy lẻ loi, cô độc, đưa mắt nhìn bốn hướng nhưng đâu đâu cũng vắng lặng, không một bóng người, nàng kiếm tìm trong khoảng không trước mắt rồi vòm trời xa xôi mà vẫn không thể tìm thấy một chút hơi ấm tình người thân mật có cảm giác như K đang bế tắc, không tìm được lối, h/ảnh “ngọn cỏ héo úa” là một ẩn dụ gợi lên những cảm nhận buồn đau về thân phận của TK. - Câu hỏi tu từ: “Hoa trôi man mác biết là về đâu?” với từ để hỏi “về đâu” vang lên da diết, đó là tiếng nói của thân phận TK hay là tiếng lòng xót thương của ND với bi kịch của nhân vật. Ở đây tình và cảnh đã có sự hoà điệu, thống nhất. Ý 5: 2câu tiếp: “Buồm trông .mặt duênh Ầm ầm tiếng sóng,kêu quanh ghế ngồi” - H/ảnh bức tranh thiên nhiên ở hai câu thơ cuối hiện lên với một màu sắc mới: Cảnh như dữ dội hơn với các h/ảnh gió cuốn, tiếng sóng ầm ầm, thiên nhiên dường như đang nỗi giận, phong ba bão tố như sắp sửa ập đến. - Nhà thơ sử dụng biện pháp nghệ thuật đảo ngữ “Ầm ầm tiếng sóng” kết hợp với từ láy tượng thanh “ầm ầm” nhằm tô đậm sự vận động của cảnh vật, tính chất dữ dội của thiên nhiên. - H/ảnh bức tranh thiên nhiên là phản chiếu của tâm trạng nhân vật, nhà thơ hoá thân vào TK để gợi tả sự lo âu hoảng hốt, những dự cảm chẳng lành về tương lai đầy dông bão của cuộc đời mình. K như đang trông thấy sóng gió tai ương rình rập, chờ đợi mình trước mắt, lòng nàng dâng lên một cảm giác lo lắng, buồn đau cho kiếp hồng nhan bạc mệnh - Ý 5: Đánh giá. - Tài năng: Tám câu thơ cuối với bút pháp tả cảnh ngụ tình đầy tài hoa, cách sử dụng từ ngữ, hình ảnh chọn lọc, giàu sức gợi, cùng các BPTT đặc sắc, ND đã khắc hoạ một bức tranh sinh động về ngoại cảnh và tâm cảnh, trong đó nổi lên tâm trạng TK bộn bề bao nỗi buồn đau, chua xót, thất vọng và lo sự trước những dự cảm về thận phận. Đằng sau nỗi niềm ấy của nàng, ta cảm nhận được một tâm hồn nhạy cảm, giàu cảm xúc, một trái tim luôn khao khát đoàn tụ, khao khát bình yên, hạnh phúc trong mái ấm gia đình.
- - Tấm lòng: Những câu thơ lục bát được viết lên bởi tấm lòng yêu thương, đồng cảm, thấu hiểu với nỗi lòng nhân vật, bợi sự quan tâm, lo lắng khôn nguôi cho tương lai, số phận nàng K và bởi sự trân trong ngợi ca tác giả dành cho người con gái có vẻ đẹp tâm hồn đáng quý. Tất cả, đó chính là tình cảm nhân đạo sâu sắc.

